Bản án 05/2021/HSPT ngày 15/01/2021 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 05/2021/HSPT NGÀY 15/01/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong các ngày 12 và 15 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2020/TLPT-HS, ngày 05/11/ 2020 đối với bị cáo Sầu Văn T; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 70/2020/HS-ST ngày 26/09/2020 của Tòa án nhân dân thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Sầu Văn T, sinh năm 1989, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Số 47, tổ 4, ấp LH, xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: lớp 5/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Sầu T3 (chết) và bà Phạm Thị Tú A; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/5/2020 đến ngày 14/5/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Ngoài ra còn có các bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ, ngày 05/5/2020, tại khu đất trống thuộc ấp TH, xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã HT, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Hồ Hữu Đ có hành vi làm cái lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cho Sầu Văn T, Phạm Hồng Đ1, Liêu Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Hiếu H, Võ Ngọc G và một số người khác (đã chạy thoát chưa xác định được) tham gia đặt cược thắng thua bằng tiền, mỗi người chơi đặt tiền ít nhất là 10.000 đồng, cao nhất 200.000 đồng cho mỗi lần đặt cược.

Tang vật thu giữ gồm: Tiền thu trên chiếu bạc 3.870.000 đồng, thu trên người các bị cáo 34.480.000 đồng; 06 hột xí ngầu, 01 dĩa sành màu trắng, 01 nắp nhựa hình trụ có dán băng keo màu xanh.

Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ các vật chứng, tài sản khác và kê biên tài sản của Nguyễn Hiếu H.

Tại bản án sơ thẩm số 70/2020/HSST, ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã HT, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sầu Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “đánh bạc”.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 07/10/2020 bị cáo Sầu Văn T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình; mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, tuyên án ngày 26/9/2020 và bị cáo đã làm đơn kháng cáo ngày 07/10/2020, kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Trưa ngày 05/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã HT, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Hồ Hữu Đ có hành vi làm cái lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cho Sầu Văn T, Phạm Hồng Đ1, Liêu Văn S, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Hiếu H, Võ Ngọc G và một số người khác tham gia đặt cược thắng thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và thu trên chiếu bạc là 14.850.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này, tuy bị cáo tham gia đánh bạc trái phép cùng nhiều người nhưng số tiền dùng vào việc đánh bạc không nhiều; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; căn cứ quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về địa phương để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa. Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, cần sửa bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sầu Văn T, sửa bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Sầu Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Sầu Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

1.2 Giao bị cáo Sầu Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã TT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

1.3 Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

1.4 Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo T không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.


38
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về