Bản án 05/2020/LĐ-ST ngày 29/05/2020 về tranh chấp bảo hiểm xã hội

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 05/2020/LĐ-ST NGÀY 29/05/2020 VỀ TRANH CHẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 08/2020/TLST- LĐ ngày 17 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-LĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-LĐ ngày 13/3/2020, Thông báo mở lại phiên tòa số 18/TB - TA ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ giữa:

Nguyên đơn:

1.Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1985 Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

2. Ông Lê Hữu T, sinh năm 1989 Địa chỉ: Tổ E, khu phố V, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

3. Ông Trần Đình H, sinh năm 1991 Địa chỉ: Tổ L, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có đơn xin vắng mặt).

4. Ông Đinh Văn H, sinh năm 1969 Địa chỉ: Tổ P, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

5. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1966 Địa chỉ: Tổ R, khu phố T, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

6. Ông Châu Thái P, sinh năm 1981 Địa chỉ: Số 8 đường Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

7. Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1990 Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

8. Ông Nguyễn Hải L, sinh năm 1988 Địa chỉ: Tổ 8, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

9. Ông Phan Xuân T, sinh năm 1987 Địa chỉ: Tổ 8, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

Bị đơn: Công ty TNHH M Địa chỉ: Khu công nghiệp P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông D – Chức vụ: Tổng giám đốc (Vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thị xã P.

Địa chỉ: Trung tâm hành chính thị xã P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Viết D – Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn trình bày:

- Ông Lê Ngọc T làm việc tại Công ty TNHH M (sau đây gọi tắt là Công ty M) vào năm 2014, ngày 19/11/2014 giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động, hợp đồng xác định thời hạn 01 năm, có phụ lục điều chỉnh mức lương và thời hạn, vị trí công việc là quản đốc khâu lắp ráp, mức lương cơ bản là 10.725.000 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

- Ông Lê Hữu T làm việc tại Công ty M vào năm 2014, đến ngày 15/12/2017 giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vị trí công việc là Thợ lắp, mức lương cơ bản là 6.175.000 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

- Ông Trần Đình H làm việc tại Công ty M vào năm 2016, ngày 16/8/2016 giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 02 năm, ngày hết hạn hợp đồng là 15/8/2018, vị trí công việc là Thợ lắp, mức lương cơ bản là 4.258.600 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

- Ông Đinh Văn H làm việc tại Công ty M vào năm 2017, ban đầu giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm, ngày 19/3/2018 ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 02 năm, ngày hết hạn hợp đồng 18/3/2020. vị trí công việc là Công nhân chuẩn bị, mức lương cơ bản là 4.550.000 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

- Ông Huỳnh Văn T làm việc tại Công ty M vào năm 2017, ngày 20/5/2017 giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm, ngày hết hạn hợp đồng là 19/5/2018, vị trí công việc là Công nhân chuẩn bị, mức lương cơ bản là 4.225.000 đồng/ tháng và các khoản phụ cấp kèm theo. - Ông Châu Thái P làm việc tại Công ty M vào năm 2017, ngày 01/3/2017 giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn là 02 năm, ngày hết hạn hợp đồng là 28/02/2019, vị trí công việc là Phụ lắp, mức lương cơ bản là 4.258.600 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

- Ông Lê Ngọc T làm việc tại Công ty M vào năm 2015, ngày 10/6/2016 giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn là 02 năm, ngày hết hạn hợp đồng 09/6/2018, vị trí công việc là Nhóm trưởng khâu lắp ráp, mức lương cơ bản là 6.825.000 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

- Ông Nguyễn Hải L làm việc tại Công ty M vào năm 2016, ngày 11/8/2016 giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 02 năm, ngày hết hạn hợp đồng là 10/8/2018, vị trí công việc là Thợ lắp, mức lương cơ bản là 5.850.000 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

- Ông Phan Xuân T làm việc tại Công ty M vào năm 2015, giữa ông và Công ty ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 02 năm, vị trí công việc là Thợ lắp, mức lương cơ bản là 5.460.000 đồng/tháng và các khoản phụ cấp kèm theo.

Hàng tháng Công ty M đều trích từ tiền lương của các ông nêu trên để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Đến tháng 5/2018, Công ty ngừng hoạt động, người lao động bị mất việc làm trong khi Công ty không ban hành quyết định hay thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động đồng thời không chốt trả sổ cho người lao động. Khi các nguyên đơn liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh B thì được biết Công ty M đang nợ quỹ Bảo hiểm xã hội từ tháng 11/2017 đến hết tháng 5/2018. Nay các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty M phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội còn nợ (gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp) từ tháng 11/2017 đến hết tháng 5/2018.

Đối với bị đơn là Công ty TNHH M: Quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH M vắng mặt, không gửi ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn cho Tòa án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thị xã P trình bày:

Tính từ tháng 11/2017 đến tháng 5/2018 Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội bao gồm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) của 09 nguyên đơn trên với tổng số tiền là 104.900.856đ (Một trăm lẻ bốn triệu, chín trăm ngàn tám trăm năm mươi sáu đồng), trong đó: Nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là 99.302.501 đồng và Lãi chậm nộp là 5.598.355 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn và Bảo hiểm xã hội thị xã Phú Mỹ đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt là tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng và phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Buộc bị đơn phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội còn thiếu của người lao động. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của các nguyên đơn gồm các ông Lê Ngọc T, Lê Hữu T, Trần Đình H, Đinh Văn H, Huỳnh Văn T, Châu Thái P, Lê Ngọc T, Nguyễn Hải L và Phan Xuân T thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”; do Công ty M có trụ sở tại thị xã Phú Mỹ và nay có tranh chấp nên xác định đây là vụ án lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn ông Trần Đình H có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

Bị đơn Công ty M không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thị xã P không có yêu cầu độc lập, đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2 Về nội dung vụ án:

Xét hợp đồng lao động đã ký kết giữa 09 nguyên đơn và Công ty M thấy: Về hình thức, thẩm quyền và nội dung giao kết hợp đồng: Các nguyên đơn giao kết hợp đồng lao động với Công ty M thông qua người đại diện là ông D, hợp đồng được giao kết bằng văn bản, dựa trên sự tự nguyện của các bên nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 16, Điều 17, Điều 24 Bộ luật lao động. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của người lao động cùng các chứng cứ kèm theo, đối chiếu với thông tin do Bảo hiểm xã hội thị xã P cung cấp tại Công văn số 34/CV-BHXH ngày 18/02/2020 đã xác định được: Người lao động làm việc tại Công ty M đều có ký kết hợp đồng lao động theo quy định, được Công ty M lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xã hội. Theo thỏa thuận tại khoản 1 Điều 3 của Hợp đồng lao động thì hai bên thống nhất tỷ lệ đóng của Công ty và người lao động thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và Luật lao động hiện hành. Thực hiện hợp đồng lao động đã ký kết, hàng tháng Công ty đều trích lại tiền lương của người lao động nhưng không đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội là vi phạm thỏa thuận tại Điều 3 của hợp đồng về phần bảo hiểm xã hội và vi phạm Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Các ông Lê Ngọc T, Lê Hữu T, Trần Đình H, Đinh Văn H, Huỳnh Văn T, Châu Thái P, Lê Ngọc T, Nguyễn Hải L và Phan Xuân T xác định đã làm việc tại Công ty M đến cuối tháng 5/2018 thì bị mất việc làm do Công ty ngừng hoạt động mà không thông báo cho người lao động.

Đối chiếu với tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có cơ sở xác định: Các ông Lê Ngọc T, Lê Hữu T, Trần Đình H, Đinh Văn H, Huỳnh Văn T, Châu Thái P, Lê Ngọc T, Nguyễn Hải L và Phan Xuân T làm việc cho Công ty M đến cuối tháng 5/2018 và đã được trả lương tháng 5/2018.

Theo tài liệu do Bảo hiểm xã hội thị xã P cung cấp thì Công ty M đã đóng các khoản bảo hiểm xã hội của người lao động hết tháng 10/2017 và còn nợ từ tháng 11/2017 đến hết tháng 5/2018, cụ thể Công ty M đang nợ Bảo hiểm xã hội của 09 nguyên đơn với tổng số tiền là: 104.900.856 đồng; trong đó nợ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tề, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp là 99.302.501 đồng và lãi phát sinh do chậm nộp là 5.598.355 đồng.

Cụ thể nợ Bảo hiểm xã hội đối với 09 nguyên đơn như sau:

Đối với ông Lê Ngọc T: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 20.197.175 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 1.138.652 đồng, tổng cộng là 21.335.827 đồng.

Đối với ông Lê Hữu T: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 11.693.100 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 659.220 đồng, tổng cộng là 12.352.320 đồng.

Đối với ông Trần Đình H: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 8.011.545 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 451.665 đồng, tổng cộng là 8.463.210 đồng.

Đối với ông Đinh Văn H: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 8.681.242 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 489.420 đồng, tổng cộng là 9.170.662 đồng.

Đối với ông Huỳnh Văn T: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 10.314.732 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 457.043 đồng, tổng cộng là 8.563.986 đồng.

Đối với ông Châu Thái P: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 8.011.545 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 451.665 đồng, tổng cộng là 8.463.210 đồng.

Đối với ông Lê Ngọc T: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 13.021.863 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 734.131 đồng, tổng cộng là 13.755.994 đồng.

Đối với ông Nguyễn Hải Lý: Công ty TNHH Metacor Việt Nam nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 11.161.597 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 629.255 đồng, tổng cộng là 11.790.852 đồng.

Đối với ông Phan Xuân T: Công ty TNHH M nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp từ tháng 11/2017 đến tháng 05/2018 là 10.417.491 đồng; lãi chậm nộp đến ngày 31/5/2018 là 587.304 đồng, tổng cộng là 11.004.795 đồng.

Theo tài liệu xác minh tại Đồn công an Khu công nghiệp thị xã Phú Mỹ và thông tin do Ban quản lý các khu công nghiệp cung cấp, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định Công ty M đã chính thức ngừng hoạt động từ ngày 24/5/2018. Việc ngừng hoạt động không được Công ty thông báo đến người lao động.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập, yêu cầu cung cấp chứng cứ, thông báo việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để Công ty M có mặt và cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của người lao động nhưng Công ty đều vắng mặt. Do đó, Công ty phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu do Bảo hiểm xã hội thị xã Phú Mỹ cung cấp và quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Buộc Công ty M phải đóng các khoản tiền bảo hiểm xã hội còn thiếu cho các Lê Ngọc T, Lê Hữu T, Trần Đình H, Đinh Văn H, Huỳnh Văn T, Châu Thái P, Lê Ngọc T, Nguyễn Hải L và Phan Xuân T từ tháng 11/2017 đến hết tháng 5/2018. 3 Về án phí: Công ty M phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ Luật lao động năm 2012; Điều 18, Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các ông Lê Ngọc T, Lê Hữu T, Trần Đình H, Đinh Văn H, Huỳnh Văn T, Châu Thái P, Lê Ngọc T, Nguyễn Hải L và Phan Xuân T về việc “Tranh chấp bảo hiểm xã hội” đối với Công ty TNHH Metacor Việt Nam.

2. Buộc Công ty TNHH M phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội (gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) vào quỹ Bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho các ông Lê Ngọc T, Lê Hữu T, Trần Đình H, Đinh Văn H, Huỳnh Văn T, Châu Thái P, Lê Ngọc T, Nguyễn Hải L và Phan Xuân T từ tháng 11/2017 đến hết tháng 5/2018.

3. Mức đóng và số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà Công ty TNHH M phải đóng vào Quỹ bảo hiểm được áp dụng và tính theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

4. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH M phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


71
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/LĐ-ST ngày 29/05/2020 về tranh chấp bảo hiểm xã hội

Số hiệu:05/2020/LĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Phú Mỹ - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:29/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về