Bản án 05/2020/HSPT ngày 26/10/2020 về tội chống người thi hành công vụ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 05/2020/HSPT NGÀY 26/10/2020 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Vào ngày 26 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2020/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Chống người thi hành công v; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HS-ST ngày 28/08/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXPT-HS ngày 12/10/2020.

- Bcáo kháng cáo:

Nguyễn Minh T, tên gọi khác: T nghé; sinh ngày 01/11/1977 tại xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Thôn X2, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D (đã chết) và bà Lê Thị M; vợ Diệp Thị L; 4 người con, sinh các năm 2000, 2002, 2008, 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/3/2003, bị Công an huyện Q xử phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; ngày 23/6/2010 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”; bị bắt tạm giam ngày 21/3/2020 đến ngày 03/7/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Bảo lĩnh. Hiện đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có một bị cáo; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 17/3/2020, Tổ công tác của Công an xã X, huyện Q do ông Võ Đức H, chức vụ Phó Trưởng Công an xã làm Tổ trưởng (mang trang phục Cảnh sát nhân dân), cùng với ông Nguyễn Thành T1 và ông Nguyễn Hữu Th là Công an xã bán chuyên trách (mang trang phục của lực lượng Công an xã bán chuyên trách) sử dụng thuyền máy tiến hành tuần tra trên tuyến sông LĐ, theo kế hoạch và lịch tuần tra kiểm soát đấu tranh với hành vi khai thác cát sỏi lòng sông trái phép trên tuyến sông LĐ từ ngày 15/3/2020 đến ngày 28/3/2020 của Công an xã X, đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X phê duyệt. Quá trình tuần tra, Tổ công tác phát hiện Đào Trọng B, Đặng Xuân K đều trú tại thôn XI, xã X và Trần Đại N, trú tại thôn X3, xã X đang dùng một chiếc thuyền vỏ nhôm được gia cố thêm gỗ, số đăng ký QB-1645-H, kích thước 3x16 mét, có một động cơ loại 24CV và dụng cụ hút cát của ông Lê Văn Đức, trú tại thôn X1, xã X, có hành vi sử dụng thuyền máy và guồng hút khai thác cát lòng sông LĐ, đoạn qua phía trước Trạm Kiểm lâm LĐ, thuộc địa phận thôn X1, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Khi Tổ công tác đến kiểm tra thì Đào Trọng B, Đặng Xuân K và Trần Đại N đã khai thác được 08m cát từ lòng sông lên khoang thuyền, nhưng không xuất trình được giấy phép khai thác tài nguyên khoáng sản, nên Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm. Đào Trọng B xin phép vào bờ để về nhà lấy tiền giao nộp nhằm đảm bảo việc xử lý vi phạm hành chính và xin tự quản lý thuyền trong quá trình xử lý vi phạm. Anh Nguyễn Thành T1 điều khiển thuyền máy chở B vào bờ đoạn phía trước Trạm Kiểm lâm LĐ để bị cáo về nhà.

Khoảng 20 phút sau, Đào Trọng B đi qua Trạm Kiểm lâm LĐ gặp Nguyễn Minh T điều khiển xe ô tô loại bán tải mang Biển số 73C - 076.57 đang đứng trong sân Trạm Kiểm lâm LĐ. Sau khi hỏi chuyện thì T biết được thuyền khai thác cát trái phép của B đang bị lực lượng Công an giữ ở giữa sông, nên T đi bộ ra bến sông, còn B đi theo phía sau. Khi T leo lên thuyền máy thì ông Nguyễn Thành T1 nói “Anh không được lên thuyền, đây là thuyền đang làm nhiệm vụ”, T trả lời “Tau đưa giấy tờ ra để giải quyết ngoài đò cát”, nên ông T1 điều khiển thuyền máy chở B và T ra vị trí thuyền khai thác cát của B đang bị Tổ công tác giữ. Khi đến gần thuyền khai thác cát, T thấy có người chiếu đèn pin về phía mình nên đã leo lên mạn thuyền nói “Tắt đèn đi không tau đạp cấy chừ” và dơ chân lên thì bị mất thăng bằng rồi ngã xuống sông nên B nhảy xuống sông đưa T lên thuyền. T đi đến vị trí Tổ công tác của Công an xã X đang làm nhiệm vụ và có lời nói lăng mạ, xúc phạm ông Võ Đức H, có hành vi dùng tay đánh vào hai bên cổ, dùng chân đạp vào bụng làm ông H bị thương, đồng thời cản trở việc thi hành công vụ của Tổ công tác Công an xã X.

Trước sự manh động của T, để trấn áp hành vi của đối tượng, ông H bắn một phát súng chỉ thiên và yêu cầu T dừng ngay hành vi vi phạm (súng bắn đạn cao su được Công an tỉnh Quảng Bình cấp giấy phép sử dụng cho Công an xã X, có giá trị từ ngày 25/9/2015 đến ngày 25/9/2020). T được K và B can ngăn, ôm giữ ngồi trên sàn gỗ ở mũi thuyền, tuy nhiên T vẫn tiếp tục có lời nói lăng mạ, xúc phạm ông H. Khi B đi kéo dây neo đưa thuyền khai thác cát vào bờ để tiếp tục làm việc theo yêu cầu của ông H, thì T dùng chân đạp vào đầu gối trái của ông H, làm ông H rơi xuống khoang thuyền. Sau khi được đưa vào bờ B và K đi về nhà, còn T tiếp tục to tiếng, chửi bới, sau đó điều khiển xe ô tô biển số 73C- 076.57 bỏ đi.

Ông H được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Q để khám và nhập viện điều trị từ đêm 17/3/2020 đến ngày 23/3/2020 và chuyển từ Bệnh viện Đa khoa huyện Q đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới điều trị. Ngày 21/4/2020, ông H đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cuba Đồng Hói để tái khám thì được chỉ định nhập viện điều trị đến ngày 29/4/2020 thì ra viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/TgT ngày 18/3/2020 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế tỉnh Quảng Bình đã Kết luận đối với ông H: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 0% (không phần trăm) và yêu cầu giám định bổ sung sau khi bị hại được điều trị ổn định và xuất viện. Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 47/TgT ngày 21 tháng 5 năm 2020 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Sở Y tế tỉnh Quảng Bình Kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích ở vùng cổ hai bên, thượng vị, mặt trước gối trái và gót chân trái hiện tại không để lại sẹo tích, di chứng.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với ông Võ Đức H là: 0% (không phần trăm).

3. Tính chất thương tích: Các thương tích nêu trên không gây nguy hiểm cho tính mạng”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HS-ST ngày 28/8/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 330, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Minh T, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 21 tháng 3 năm 2020 đến ngày 03 tháng 7 năm 2020.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/9/2020 bị cáo Nguyễn Minh T kháng cáo cho là án xử nặng, xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do lúc đó bị cáo đã có dùng bia rượu nên không làm chủ được bản thân, chứ thật sự bị cáo không cố tình chống lại người thi hành công vụ. Hiện tại bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án cho rằng: về tố tụng, HĐXX tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; về nội dung, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người đúng tội. Xét hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra thì mức án mà cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là tương xứng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo có cung cấp được một số chứng cứ về những tình tiết giảm nhẹ mới, nên có cơ sở giảm nhẹ hình phạt, do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm cho bị cáo một phần hình phạt; xử phạt bị cáo mức án bằng với thời gian đã bị tạm giam là 3 tháng 13 ngày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Minh T đã thừa nhận hành vi phạm tội nhu cấp sơ thẩm xét xử; vì mục đích ngăn cản Tổ công tác của Công an xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình làm nhiệm vụ xử lý thuyền khai thác cát trái phép của người khác trên sông LĐ không liên quan gì đến bị cáo, mà bị cáo T có lời nói xúc phạm và dùng tay chân đấm đá vào người ông Võ Đức H phó công an xã. Mặc dù được ông H bắn chỉ thiên và mọi người can ngăn, ôm giữ nhưng bị cáo T vẫn tiếp tục lăng mạ và đạp ông H rơi xuống khoang thuyền phải đi nhập viện điều trị, tuy kết quả giám định thương tích là 0%, nhưng phần nào nói lên sự coi thường pháp luật của bị cáo.

[2] Xét kết quả xét xử án sơ thẩm, thấy rằng: Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào khoản 1 Điều 330 BLHS có mức hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s) theo khoản 1; gia đình thương binh; có công trong phòng chống dịch bệnh covid; người bị hại không yêu cầu nhưng vẫn bồi thường thiệt hại theo khoản 2 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” là phù hợp.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thì thấy: Sau khi bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử 06 tháng tù, bị cáo đã rất hối hận và ăn năn hối cải nhiều hơn; bị cáo đã vận động và hỗ trợ nhân dân trong thôn tháo dỡ mặt bằng thi công đường giao thông; vận động nhân dân và bản thân tự giác giao nộp vũ khí, vật liệu nổ cho cơ quan chức năng xử lý. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo đã bị tạm giam 3 tháng 13 ngày cũng đủ thời gian giáo dục, cải tạo. Do vậy, HĐXX thống nhất với quan điểm của kiểm sát viên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS xử dưới khung hình phạt; sửa phần hình phạt tù cho bị cáo bằng với thời gian tạm giam cũng thỏa đáng.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo Nguyễn Minh T không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1/ Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh T; sửa phần hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2020/HS-ST ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội Chng người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 330, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54, 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) tháng 13 (mười ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đã bị tạm giam (ngày 21/3/2020 đến ngày 03/7/2020). Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

2/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (26/10/2020).


41
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 05/2020/HSPT ngày 26/10/2020 về tội chống người thi hành công vụ

      Số hiệu:05/2020/HSPT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:26/10/2020
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về