Bản án 05/2020/HNGĐ-PT ngày 27/03/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 05/2020/HNGĐ-PT NGÀY 27/03/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 27 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 71/2019/HNGĐ-ST ngày 20/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2020/QĐPT-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L; nơi cư trú: Thôn Thượng Đồng, xã An Hòa, huyện VB, thành phố Hải Phòng, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đào Trọng T (tên gọi khác Đào Văn Lành); nơi cư trú: Thôn L Trạch, xã Thanh L, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt.

3. Người kháng cáo: Anh Đào Trọng T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị L và anh Đào Trọng T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh L, huyện VB, thành phố Hải Phòng từ ngày 08 tháng 12 năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mặt khác, anh T ham chơi, không quan tâm đến gia đình, vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau mặc dù đã được gia đình khuyên giải. Chị L và anh T sống ly thân từ đầu năm 2019, không còn quan tâm đến nhau và cắt đứt mọi quan hệ nghĩa vụ vợ chồng. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn anh Đào Trọng T.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đào Thuận An, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2015. Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con, tự thỏa thuận.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đào Trọng T trình bày:

Anh xác nhận về điều kiện kết hôn, thời điểm kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng như nội dung chị L trình bày là đúng và anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị L. Khi ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Đào Thuận An, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2015. Việc cấp dưỡng nuôi con anh tự thỏa thuận với chị L.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị L tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Với nội dung nêu trên, bản án sơ thẩm số 71/2019/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện VB đã quyết định:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Đào Trọng T.

2. Về con chung: Giao con Đào Thuận An, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2015 cho chị L trực tiếp nuôi đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 31 tháng 12 năm 2019, anh Đào Trọng T kháng cáo về con chung giao cho chị L trực tiếp nuôi là không đúng với thực tế điều kiện nuôi dưỡng của chị L vì ản thân chị L không có chỗ ở ổn định và thời gian làm việc không ổn định nên không đảm bảo điều kiẹn chăm sóc con. Mặt khác từ khi vợ chồng ly thân, chị L không có trách nhiệm với con, bản thân anh T là người trực tiếp chăm sóc con. Lương của anh từ 13 - 14 triệu đồng/tháng nên anh đảm bảo điều kiện nuôi con tốt hơn. Do vậy, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm giao con chung Đào Thuận An, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2015 cho anh nuôi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Anh Đào Trọng T kháng cáo không đồng ý giao con chung cho chị Nguyễn Thị L nuôi dưỡng. Xét thấy anh T hiện không có công việc ổn định, không chứng minh được thu nhập, hiện anh T ở chung với bố mẹ đẻ. Còn chị L có công việc ổn định, thu nhập hàng tháng 7-8 triệu đồng, có xác nhận của công ty, chị L hiện cũng đang ở nhà ở mẹ đẻ chị L. Như vậy, thấy rằng chị L có điều kiện nuôi con tốt hơn anh T, hơn nữa con chung của anh chị cũng còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của người mẹ, nên bản án sơ thẩm tuyên giao con chung cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Đào Trọng T. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của anh Đào Trọng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Đào Trọng T cư trú trên địa bàn huyện VB nên Tòa án nhân dân huyện VB thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo: Về điều kiện nuôi con: Anh T và chị L đều có việc làm và có thu nhập. Tuy nhiên, chị L có việc làm ổn định. Công ty TNHH Đỉnh Vàng Golden top nơi chị làm việc có xác nhận mức L của chị là 8.000.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T khai: Anh lao động tự do, thu nhập khoảng 8.000.000đồng/tháng nhưng không có tài liệu chứng minh. Hiện nay, cả hai anh chị đều đang ở tại nhà của bố mẹ đẻ của mình. Từ khi vợ chồng ly thân, chị L vẫn có trách nhiệm về kinh tế để đảm bảo sinh hoạt của con chung. Mặt khác, cháu Thuận An còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn, do vậy tòa án cấp sơ thẩm giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của anh Đào Trọng T.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của anh Đào Trọng T không được chấp nhận nên anh Đào Trọng T phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Đào Trọng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 71/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Đào Trọng T.

2. Về con chung: Giao con Đào Thuận An, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2015, cho chị L trực tiếp nuôi đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007858 ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB, thành phố Hải Phòng.

4. Về án phí ly hôn phúc thẩm: Anh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã theo biên lai thu tiền số 0008003 ngày 31 tháng 12 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB, thành phố Hải Phòng.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2020/HNGĐ-PT ngày 27/03/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:05/2020/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/03/2020
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về