Bản án 05/2020/DS-PT ngày 21/02/2020 về yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 05/2020/DS-PT NGÀY 21/02/2020 VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI SỨC KHỎE

Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2020/TLPT-DS ngày 13/01/2020 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2020/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tuyên Quang bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1960; có mặt; Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Tuyên Quang.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974; có mặt; Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện B, tỉnh Tuyên Quang. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thế T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tranh tụng tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Thế T trình bày: Ngày 25 tháng 8 năm 2019 ông xuống thăm vườn cây tại khu rừng của gia đình, quá trình thăm nom ông phát hiện vườn cây của gia đình quản lý bị đốn hạ 02 cây mỡ không biết ai đã chặt cây ở vườn. Sau khi phát hiện cây mỡ bị chặt, cắt ra từng đoạn ông quay về nhà thuê hai cháu Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn X ở cùng thôn B xuống vác cây về lán cất. Trong lúc ba người đang vác gỗ về lán thì ông Nguyễn Văn H đến lao vào đánh ông, cụ thể ông H túm tóc, bóp cổ, đánh vào ngực, bụng và lưng ông. Khi bị ông H đánh có cháu Nguyễn Văn Cvào can ngăn kéo tay ông H ra, sự việc mới chấm dứt. Sau khi bị ông H đánh, ông vào Bệnh viện Đa khoa huyện B điều trị 10 ngày, quá trình điều trị tại bệnh viện, ông được bảo hiểm thanh toán toàn bộ viện phí nên không yêu cầu ông H phải bồi thường chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện B.

Ngày 25/8/2019 ông viết đơn đề nghị lên Công an xã L xem xét, giải quyết, đến ngày 16/9/2019 Công an xã L mời hai bên đến giải quyết. Tại buổi làm việc ông Nguyễn Văn H nhất trí bồi thường cho ông với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), nhưng ông không nhất trí vì lý do thời gian vào viện điều trị, mọi sinh hoạt của gia đình ông bị xáo trộn, vợ ông vừa quán xuyến công việc gia đình, vừa phải đưa cơm nước cho ông ở viện.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông đề nghị buộc ông H phải bồi thường vật chất, tinh thần, sức khỏe bao gồm:

1. Bồi thường 10 ngày công lao động ông không đi làm được x 200.000đ/01 ngày = 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng);

2. Bồi thường 10 ngày công lao động của người phục vụ x 200.000đ/01 ngày x 01 người = 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng);

3. Bồi thường tiền tàu xe, tiền ăn uống đi xuống Phòng khám U chụp chiếu và tiền xe về nhà 02 người là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng);

4. Bồi thường về tinh thần và sức khỏe với số tiền là 8.000.000 đồng. Tổng cộng yêu cầu ông H phải bồi thường 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

Tại bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Khoảng 11 giờ ngày 25 tháng 8 năm 2019 khi ông đang ở nhà thì vợ ông nói thấy có người đang vác cây của nhà mình nên ông chạy ra xem. Khi ra đến nơi thấy anh rể là ông Nguyễn Thế T và hai người khác đang vác cây mỡ của ông, 02 cây mỡ là của gia đình ông đã chặt xuống và cắt thành từng khúc để ở đó. Do bức xúc bị người khác lấy trộm cây của mình ông chạy tới chỗ ông T giật lấy cây gỗ và vác để về vị trí cũ, đồng thời yêu cầu hai người vác trả lại toàn bộ số cây đã vác đi trở về vị trí cũ. Sau khi vác trả lại toàn bộ số cây vào vị trí cũ ông đi về nhà, còn ông T đi báo trưởng thôn về làm việc.

Quá trình xảy ra sự việc xô sát ông không được đánh ông T, không được túm cổ và không gây thương tích cho ông T. Về trách nhiệm bồi thường ông yêu cầu phải có biên bản hiện trường ban đầu, phải có giám định sức khỏe xác định thiệt hại về sức khỏe để làm căn cứ cho việc bồi thường. Nếu hai bên thỏa thuận giải quyết tình cảm ông nhất trí bồi thường 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) cho ông T, nếu phải đưa ra xét xử tại phiên tòa ông không nhất trí bồi thường.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tuyên Quang xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; không hòa giải được và đưa ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tuyên Quang quyết định: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; Điều 26, 35, 39, 143, 147, 235, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế T.

Xử: Buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Nguyễn Thế T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

- Về án phí: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, quyền kháng cáo bản án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/12/2019 Tòa án nhận được đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thế T ghi ngày 09/12/2019 có nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, với lý do Tòa cấp sơ thẩm buộc ông H bồi thường thiệt hại cho ông 2.000.000 đồng, nên ông không nhất trí vì cho rằng 02 cây mỡ nằm trong đất của ông đã được Nhà nước giao cho ông quản lý tại thửa số 14, tờ bản đồ số 396 diện tích 9.200m2 UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/10/2007 thời hạn sử dụng đến ngày 31/10/2057. Việc ông Nguyễn Văn S khai 02 cây mỡ có nguồn gốc từ trước và gia đình ông Sáng nhất trí cho ông H khai thác là bịa đặt không có cơ sở, giấy tờ chứng minh rằng tôi nhất trí cho ông H khai thác sử dụng 02 cây mỡ đó.

Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo ông Nguyễn Thế T thay đổi nội dung yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang buộc ông Nguyễn Văn H phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ông tổng số tiền là 11.000.000 đồng (trong đó tiền công lao động, tiền mất thu nhập là 4.000.000 đồng, bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần là 6.000.000 đồng, tiền tàu xe, tiền ăn uống đi xuống Phòng khám U chụp chiếu và tiền xe về nhà 02 người là 1.000.000 đồng).

Ông Nguyễn Thế T trình bày: Năm 1983 ông được giao đất rừng sản xuất theo sổ Lâm bạ, năm 2007 ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trồng cây mỡ hàng năm có khai thác và trồng thêm, không phải đất do ông Nguyễn Văn S cho, đất không tranh chấp với ai, sáng ngày 25/8/2019 ông phát hiện có người cắt trộm 02 cây mỡ đã cắt thành 05 khúc mỗi khúc dài 02 mét, nên ông thuê người vác 02 cây mỡ về lán của ông là đúng, ông không trộm cắp của ai, ông không biết ông H tự ý chặt 02 cây mỡ này, còn ông H khai 02 cây mỡ này của nhà ông Sáng cho ông H khai thác là không đúng, ông H khi khai thác không xin ý kiến của ông, ông không có lỗi gì. Việc ông H đánh ông là thực tế đã bị Công an xã L, huyện B xử phạt hành chính, ông H không khiếu nại gì và đã nộp tiền phạt. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết đúng pháp luật bảo vệ quyền lợi cho ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất của ông T được giao từ năm 1983 đến năm 2007 được cấp sổ đỏ, do ông Nguyễn Văn S là người giới thiệu thửa đất cho, sau đó ông T trồng gỗ mỡ và gỗ tự nhiên khác, năm 2019 ông làm nhà thì ông Nguyễn Văn S bảo ông lên chặt 02 cây gỗ mỡ ở vườn rừng nhà ông T, nên ngày 22/8/2019 ông đem cưa xăng lên cắt gốc thứ nhất có đường vanh 70cm, cắt được 03 khúc dài 02 mét, gốc thứ hai có đường vanh 53cm, cắt được 02 khúc dài 02 mét; khoảng 11 giờ ngày 25 tháng 8 năm 2019 khi ông đang ở nhà thì vợ ông nói thấy có người đang vác cây của nhà mình nên ông chạy ra xem. Khi ra đến nơi thấy anh rể là ông Nguyễn Thế T và hai người khác đang vác cây mỡ của ông. Do bức xúc bị người khác lấy trộm cây của mình ông chạy tới chỗ ông T giật lấy cây gỗ và vác để về vị trí cũ, đồng thời yêu cầu hai người vác trả lại toàn bộ số cây đã vác đi trở về vị trí cũ.

Quá trình xảy ra sự việc xô sát ông không được đánh ông T, không được túm cổ và không gây thương tích cho ông T. Về trách nhiệm bồi thường ông yêu cầu phải có biên bản hiện trường ban đầu, phải có giám định sức khỏe xác định thiệt hại về sức khỏe để làm căn cứ cho việc bồi thường.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo nguyên đơn ông Nguyễn Thế T hợp lệ trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, xử buộc ông Nguyễn Văn H phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho ông Nguyễn Thế T khoản tiền 10 ngày công lao động của ông T trong thời gian nằm viện x 200.000 đồng/01 ngày = 2.000.000 đồng, khoản tiền 10 ngày công lao động của người phục vụ x 200.000 đồng/01 ngày = 2.000.000 đồng, bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần số tiền tương đương 01 tháng lương cơ bản là 1.490.000 đồng.

Tổng cộng ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Thế T tổng số tiền là 5.490.000 đồng (năm triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Đối với khoản tiền tàu xe, tiền ăn uống đi xuống Phòng khám U chụp chiếu và tiền xe về nhà 02 người là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), xét không có căn cứ nên không chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thế T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thế T, Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 396, địa chỉ thửa đất Khuổi Nhầu, thôn B, xã L, huyện A, tỉnh Tuyên Quang, nguồn gốc do Nhà nước giao sổ lâm bạ từ năm 1983 cho ông Nguyễn Thế T và bà Nguyễn Thị I, ngày 31/10/2007 Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00593 cho ông T, bà Nai diện tích 9.200m2 đất rừng sản xuất, thời hạn sử dụng đến 31/10/2057.

Ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn H cho rằng 02 cây gỗ mỡ là do ông Sáng trồng, ông Sáng cho ông H sử dụng 02 cây gỗ mỡ đó; ông Nguyễn Thế T cho rằng 02 cây gỗ mỡ do ông trồng và chăm sóc trên 10 năm nên thuộc quyền sở hữu của ông, từ trước đến nay hai bên không tranh chấp gì về đất đai và tài sản.

Tại đơn khởi kiện ngày 18/9/2019 ông Nguyễn Thế T yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải bồi thường thiệt hại về tài sản 02 cây gỗ mỡ trị giá 4.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại sức khỏe, tổn thất tinh thần tổng cộng các khoản là 20.200.000 đồng; Tòa án nhân dân huyện B thụ lý vụ án Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, chưa yêu cầu nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí, chưa thụ lý về yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản (02 cây gỗ mỡ), tại bản tự khai, biên bản hòa giải, tại phiên tòa sơ thẩm ông T không yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản (02 cây gỗ mỡ), tại đơn kháng cáo ông T yêu cầu ông H phải bồi thường 02 cây gỗ mỡ, tại phiên tòa phúc thẩm không yêu cầu giải quyết.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe: Do ông Nguyễn Văn H tự ý khai thác 02 cây gỗ mỡ trong vườn rừng nhà ông Nguyễn Thế T, ngày 25/8/2019 ông T đi thăm vườn cây phát hiện 02 cây mỡ bị chặt hạ, ông Nguyễn Thế T có thuê anh Nguyễn Văn Lực và Nguyễn Văn Xứng vác cây về lán, thì ông Nguyễn Văn H đến ngăn cản, hai bên xảy ra xô sát, ông T khai bị ông H túm tóc, bóp cổ, đánh vào ngực, bụng và lưng, hậu quả ông T phải đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện B 10 ngày (từ ngày 25/8/2019 đến 03/9/2019) chuẩn đoán khi vào viện bị chấn thương phần mềm nhiều nơi, CT ngực, vùng vai phải có nốt sưng đỏ kích thước 2 x 3cm, vùng ngực có nốt sưng đỏ kích thước 3 x 4cm, vết thứ 2 có vết xước sưng đỏ kích thước 1 x 8cm, đầu gối phải đau, vận động đau tăng; ông Nguyễn Văn H không thừa nhận được đánh ông Nguyễn Thế T; các nhân chứng anh Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn X đều khai ông Nguyễn Văn H có dùng tay đánh đấm nhiều nhát vào người ông Nguyễn Thế T.

Sự việc đã được Công an xã L lập biên bản vi phạm hành chính, kết luận hành vi của ông Nguyễn Văn H đánh ông Nguyễn Thế T là vi phạm pháp luật và ra quyết định xử phạt đối với ông Nguyễn Văn H về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế T, xử buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Nguyễn Thế T khoản tiền chi phí 10 ngày công lao động không đi làm được của ông T do phải nằm viện điều trị (10 ngày x 200.000đ/01 ngày bằng 2.000.000 đồng; 10 ngày công lao động của 01 người phục vụ (10 ngày x 200.000đ/01 ngày bằng 2.000.000 đồng. Tổng cộng là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Cấp sơ thẩm đánh giá ông T có một phần lỗi, đó là tự ý lấy cây mỡ của ông H nên phải chịu một phần lỗi do mình gây nên. Do vậy tổng cộng số tiền 4.000.000 đồng trừ đi 1/2 lỗi của ông T bằng 2.000.000 đồng, buộc ông H bồi thường 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho ông T là không phù hợp pháp luật, bởi lẽ thửa đất trên ông T đã sử dụng từ năm 1983 và được cấp quyền sử dụng đất từ năm 2007, ông T đã trồng cây gỗ mỡ nhiều năm, tại phiên tòa phúc thẩm ông H thừa nhận về nguồn gốc thửa đất của ông T được giao từ năm 1983 đến năm 2007 được cấp sổ đỏ, do ông Nguyễn Văn S là người giới thiệu thửa đất cho, sau đó ông T trồng gỗ mỡ và gỗ tự nhiên khác, cho dù 02 cây gỗ mỡ là của ông Nguyễn Văn S cho ông Nguyễn Văn H thì khi khai thác ông H cũng phải thông báo cho ông T biết để khi khai thác cây không bị ảnh hưởng đến tài sản khác của ông T; khi ông T phát hiện 02 cây gỗ mỡ bị chặt hạ cắt khúc, ông T thuê người vận chuyển về lán là bảo vệ tài sản của mình, ông T không có lỗi, cấp sơ thẩm xác định ông T có lỗi là không phù hợp pháp luật; việc ông H có hành vi đánh, đấm ông T phải điều trị tại bệnh viện lỗi hoàn toàn thuộc về ông H. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thế T, sửa bản án dân sự sơ thẩm như sau.

Chấp nhận khoản tiền 10 ngày công lao động của ông T trong thời gian nằm viện x 200.000 đồng/01 ngày = 2.000.000 đồng. Chấp nhận khoản tiền 10 ngày công lao động của người phục vụ x 200.000 đồng/01 ngày = 2.000.000 đồng.

Chấp nhận khoản tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần số tiền tương đương 01 tháng lương cơ bản là 1.490.000 đồng.

Tổng cộng buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Thế T tổng số tiền là 5.490.000 đồng (năm triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Đối với khoản tiền tàu xe, tiền ăn uống đi xuống Phòng khám U chụp chiếu và tiền xe về nhà 02 người là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), xét không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thế T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thế T, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tuyên Quang như sau.

Xử buộc ông Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Nguyễn Thế T tổng số tiền là 5.490.000 đồng (năm triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Khoản tiền phải bồi thường, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và ông Nguyễn Thế T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng ông Nguyễn Văn H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thế T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 21/02/2020).

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


131
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về