Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 05/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 19/9/2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2019/TLST-HNGĐ ngày 26/7/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Tr - Sinh năm 1989; trú tại: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T - Sinh năm 1985; nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Hoàng Thị Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị xây dựng gia đình với anh Hoàng Văn T, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào năm 2009. Sau khi kết hôn, chị Tr và anh T chung sống tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng tính cách không hòa hợp, thường xuyên cãi cọ nhau. Đến khoảng tháng 4 năm 2016 anh Hoàng Văn T bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì. Khi đi không thông báo cho gia đình biết và cũng không làm thủ tục khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương. Hiện nay chị Tr, gia đình và chính quyền địa phương không ai biết được tin tức gì của anh T. Tháng 01 năm 2019 chị Tr đã có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện B tuyên bố anh T mất tích và ngày 08/7/2019 Tòa án đã ra quyết định tuyên bố mất tích đối với anh T. Nay chị Tr yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị và anh T có một con chung tên là Hoàng Hải D, sinh ngày 26/7/2008, con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường. Ly hôn chị Tr chịu trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Tr xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, anh Hoàng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tuyên bố mất tích tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/QĐST-DS, ngày 08/7/2019, do vậy quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình tố tụng, xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng quy định. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị Tr, cho chị Tr được ly hôn với anh T. Về con chung: Đề nghị giao con chung Hoàng Hải D cho chị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn anh Hoàng Văn T có nơi cư trú cuối cùng tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Quá trình giải quyết vụ án do anh T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, chị Tr đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Hoàng Văn T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật. Do đó việc Tòa án nhân dân huyện B xét xử vắng mặt anh Tùng là phù hợp quy định của pháp luật.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tr và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào năm 2009 nên xác định hôn nhân của chị Tr và anh T là hợp pháp. Tháng tháng 4 năm 2016 anh T tự bỏ nhà đi cho đến nay, gia đình và chính quyền địa phương không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hay đã chết. Ngày 08/7/2019 Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tuyên bố anh Hoàng Văn T mất tích tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/QĐST-DS. Nay chị Tr khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, HĐXX thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Tr phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Hoàng Thị Tr xin chịu trách nhiệm nuôi con chung là Hoàng Hải D, sinh ngày 26/7/2008. Hội đồng xét xử xét thấy anh T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, thấy rằng yêu cầu của chị Tr là phù hợp với nguyện vọng của cháu Hoàng Hải D đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Nếu sau này anh T trở về và các đương sự có yêu cầu về vấn đề con chung, Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Chị Tr không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết. Anh T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên không có quan điểm. Nếu sau này anh T trở về và có yêu cầu giải quyết vấn đề tài sản thì Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[5] Về nợ chung: Không có nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Hoàng Thị Tr phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự; Điều 51, khoản 2 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, nuôi con chung của chị Hoàng Thị Tr đối với anh Hoàng Văn T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Tr được ly hôn với anh Hoàng Văn T.

- Về con chung: Giao con chung là Hoàng Hải D, sinh ngày 26/7/2008 cho chị Hoàng Thị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Tr không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nếu anh T trở về.

- Về tài sản chung: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Hoàng Thị Tr phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị Tr đã nộp theo biên lai số 03685 ngày 26/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Chị Hoàng Thị Tr đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


59
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 05/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:05/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ba Bể - Bắc Kạn
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về