Bản án 05/2018/HS-PT ngày 24/01/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 05/2018/HS-PT NGÀY 24/01/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 24 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 136a/2017/HSPT ngày 13 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn V, Đào Văn C do có kháng cáo của các bị cáo và người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2017/HS-ST ngày 30/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.

-Các bị cáo có kháng cáo

1. Trần Văn V; sinh ngày: 30/10/1992; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị A; có vợ: Phạm Thị Thu H, sinh năm 1991 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/8/2017 đến nay; có mặt.

2. Đào Văn C; sinh ngày: 06/4/1993; nơi cơ trú: Thôn H, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đào Đình Q (Đã chết) và bà Phan Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/8/2017 đến nay; có mặt.

- Người bị hại có kháng cáo: Anh Đoàn Thanh L; sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Y, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

Vụ án có những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là: Anh Nguyễn Văn T; Ông Đào Xuân N; Anh Đào Viết T; Anh Nguyễn Bảo V; Anh Trần Văn L; Chị Phạm Thị Thu H; Anh Nguyễn Trọng T; Anh Phan Ngọc T; Anh Võ Đình Q nhưng không có kháng cáo, án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 01/8/2017, tại quán F ở tổ dân phố 5 thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, do mâu thuẫn cá nhân, Trần Văn V, Phan Thế C, Đào Văn C đã sử dụng ống tuýp sắt, dao chém anh Đoàn Thanh L gây thương tích với tỷ lệ 16%.

Trộng vụ án này, Trần Văn V là người khởi xướng, rủ rê người khác phạm tội và là người trực tiếp gây thương tích cho anh L, Phân Thế C, Đào Văn C sử dụng ống tuýp sắt đánh vào bàn và cột bê tông nơi đánh nhau đã giúp sức về mặt tinh thần cho V chém bị hại. Hiện nay, Phần Thế C đang bỏ trốn.

Với hành vi phạm tội trên, tại bản án số: 21/2017/HS-ST ngày 30/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đã Quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V và Đào Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội:

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 24/8/2017.

Xử phạt bị cáo Đào Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 24/8/2017.

Án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự; tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 06/11/2017, bị cáo Trần Văn V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bản thân rất ân hận với hành vi phạm tội của mình, khai báo thành khẩn, luôn tham gia tốt các phong trào của địa phương, từng tham gia nghĩa vụ quân sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là trụ cột chính trong gia đình nên xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về giúp đỡ gia đình, vợ con.

Ngày 06/11/2017, bị cáo Đào Văn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do: Bản thân rất ân hận với hành vi phạm tội của mình, khai báo thành khẩn, luôn tham gia tốt các phong trào của địa phương, chỉ cầm ống tuýp đánh vào cột để hù dọa chứ không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, nay xét thấy mức án quá cao nên xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để sớm về giúp đỡ gia đình.

Ngày 10/11/2017, người bị hại Đoàn Thanh L có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm đối với các bị cáo với lý do: Việc bồi thường cho anh L trong vụ án chỉ là thỏa thuận dân sự, các bị cáo không ăn năn hối cải, coi thường pháp luật, mức án đối với các bị cáo là quá nhẹ, cần phải tăng mức hình phạt đối với các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Trần Văn V và Đào Văn C  khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Các bị cáo trình bày ý kiến và vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại cũng trình bày lý do và vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn V, Đào Văn C và người bị hại Đoàn Thanh L giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Theo lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy hành vi phạm tội của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành của tội “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (có khung hình phạt nhẹ hơn Bộ luật hình sự 1999). Theo đó bản án hình sự sơ thẩm số 21/2017/HS-ST ngày 30/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh quyết định tuyên bố các bị cáo Trần Văn V và Đào Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo V là người trực tiếp dùng dao chém gây thương tích đối với anh L, bị cáo C là người có hành vi, lời nói đe dọa, khống chế các bạn của L để cho V thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo luật định.

Cấp sơ thẩm đã cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999 để xử phạt đối với các bị cáo là có cơ sở. Mức án 30 tháng tù đối với bị cáo Trần Văn V và 24 tháng tù đối với bị cáo Đào Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” là hoàn toàn phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có căn cứ, tình tiết gì mới để xuất trình. Theo đó, lý do trình bày xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận mà cần bác nội dung đơn kháng cáo của bị cáo.

Như đã phân tích ở trên, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với các bị cáo trong vụ án này là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, không có cơ sở để xem xét tăng mức hình phạt đối với các bị cáo như đơn kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt của bị hại.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ.

[3] Các bị cáo, người bị hại kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự

Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Văn V, Đào Văn C và người bị hại Đoàn Thanh L giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V và Đào Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội:

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 24/8/2017.

Xử phạt bị cáo Đào Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 24/8/2017.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Trần Văn V và Đào Văn C và người bị hại Đoàn Thanh L mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


140
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về