Bản án 04/2020/DSST ngày 18/06/2020 về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 04/2020/DSST NGÀY 18/06/2020 VỀ TRANH CHẤP THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRẢ TIỀN

Ngày 18/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2020/TLST-DS, ngày 28 tháng 4 năm 2020 về việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-DS, ngày 05/6/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Đức Ch, sinh năm 1993 (Có mặt):

Địa chỉ: Đội 6, thôn Ph, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1982 (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt):

Nơi ĐKHKTT: Đội 3, thôn N, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Chổ ở hiện nay: Xóm Đ, thôn Tr, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 14/01/2020, bản tự khai ngày 28/4/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn Anh Phạm Đức Ch trình bày:

Nguyên giữa Anh Phạm Đức Ch và Chị Nguyễn Thị V là chỗ chị em quen biết nhau, vào khoảng ngày 10/11/2019 chị V có đặt vấn đề hiện chị V đang làm nhà nên cần một số lượng lớn sơn các loại dùng để sơn nhà nên giữa anh Ch và chị V thống nhất thỏa thuận bằng miệng, anh Ch sẽ cung cấp các loại sơn nhà cho chị V khi chị yêu cầu và sẽ thanh toán tiền ngay cho mỗi lần xuất hóa đơn bán lẻ.

Thời gian đầu mỗi lần cung cấp các loại sơn dùng để sơn nhà, anh Ch xuất hóa đơn bán lẻ thì chị V đều thanh toán ngay. Tuy nhiên, khoản thời gian từ ngày 21/11/2019 đến ngày 20/12/2019, mỗi lần cung cấp các loại sơn dùng để sơn nhà, anh Ch xuất hóa đơn bán lẻ thì chị V không chịu thanh toán ngay cho anh mà lấy lý do này, lý do kia hứa hẹn sẽ thanh toán tiền cho anh sau, cụ thể số tiền chị V chưa thanh toán gồm: Ngày 21/11/2019 chị V nợ 31.655.800 đồng, ngày 03/12/2019 chị V nợ 10.934.000 đồng, ngày 05/12/2019 chị V nợ 32.596.960 đồng, ngày 13/12/2019 chị V nợ 13.198.900 đồng, ngày 20/12/2019 chị V nợ 3.147.900 đồng. Tổng cộng 05 lần hóa đơn bán lẻ chị V chưa thanh toán với số tiền 91.533.000 đồng. Ngày 28/3/2020 anh trực tiếp xuống nhà chị V để tìm gặp chị V yêu cầu thanh toán số tiền nợ còn lại nhưng chị V không chịu thanh toán, anh yêu cầu viết giấy nợ và ký tên chị V vào đó nên chị V đồng ý viết và ký tên vào giấy nhận tiền. Tại đơn khởi kiện anh yêu cầu chị V phải trả lại cho anh số tiền còn nợ lại mua sơn là 91.533.000 đồng nhưng trong quá trình Tòa giải quyết anh thay đổi yêu cầu khởi kiện, anh chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chị Nguyễn Thị V phải trả cho anh số tiền mua sơn còn nợ là 79.533.000 đồng, về lãi suất anh không yêu cầu.

Ngoài ra anh không trình bày.

* Tại bản khai ngày 27/5/2020 Chị Nguyễn Thị V trình bày như sau:

Giữa Chị Nguyễn Thị V và Anh Phạm Đức Ch không có quan hệ bà con gì, chỉ quen biết nhau qua việc bán sơn cho chị. Vào cuối năm 2019, chị làm nhà thì được Anh Phạm Đức Ch chào bán sơn cho chị, với tổng số tiền 91.533.000 đồng.

Đến ngày 28/3/2020 chị có viết giấy nợ cho anh Ch mà anh đã nộp cho Tòa án, cách đây hơn một tháng chị đã trả cho anh Chung số tiền 12.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ. Nay anh Ch yêu cầu chị phải trả cho anh số tiền 91.533.000 đồng thì chị không đồng ý, chị chỉ đồng ý trả cho anh Ch số tiền còn nợ lại là 79.533.000 đồng. Chị có liên hệ với anh Ch mời xuống nhà để trả nợ dần nhưng anh Ch không chịu trả dần mà yêu cầu chị trả một lần nên chị không lên Tòa để giải quyết với anh Ch.

Ngoài ra chị không trình bày gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Phạm Đức Ch yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chị Nguyễn Thị V, cư trú tại Thôn Tr, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi trả cho anh số tiền 91.533.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 26, 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn Anh Phạm Đức Ch yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chị Nguyễn Thị V trả cho anh số tiền còn nợ lại mua sơn 91.533.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Trong quá trình Tòa án giải quyết, anh Ch thay đổi yêu cầu khởi kiện, anh chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chị Nguyễn Thị V trả cho anh số tiền 79.533.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Việc Anh Phạm Đức Ch thay đổi yêu cầu khởi kiện như đã nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Chị Nguyễn Thị V thừa nhận giấy nợ ngày 28/3/2020 với số tiền 91.533.000 đồng là chị viết và ký vào giấy nợ, đây là số tiền chị xác định còn nợ lại do chị mua sơn của anh Ch để làm nhà, kể từ ngày viết giấy nợ chị đã trả thêm cho anh Ch số tiền 12.000.000 đồng, nay chị xác định còn nợ của anh Ch số tiền79.533.000 đồng và chị đồng ý trả nhưng chị có nguyện vọng được trả dần, nếu anh Ch không đồng ý thì chị không lên Tòa án để giải quyết. Nay anh Ch chỉ yêu cầu chị V có trách nhiệm trả cho anh số tiền còn nợ mua sơn là 79.533.000 đồng, anh không yêu cầu tính lãi suất. Xét thấy yêu cầu của anh Ch là có căn cứ nên được chấp nhận. Căn cứ vào Điều 280, Điều 440 Bộ luật dân sự buộc Chị Nguyễn Thị V phải trả cho Anh Phạm Đức Ch số tiền 79.533.000 đồng.

[2.3] Về lãi suất: Anh Phạm Đức Ch không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc Chị Nguyễn Thị V phải chịu 3.976.650 đồng (79.533.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Hoàn trả lại cho Anh Phạm Đức Ch số tiền tạm ứng án phí 2.288.325 đồng đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 264, Điều 266, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự:

Căn cứ các Điều 280 và Điều 440 Bộ luật dân sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Anh Phạm Đức Ch.

Buộc Chị Nguyễn Thị V có nghĩa vụ trả cho Anh Phạm Đức Ch số tiền 79.533.000 đồng (Bảy mươi chín triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Chị Nguyễn Thị V phải nộp 3.976.650 đồng (ba triệu, chín trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

2.2. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Anh Phạm Đức Ch 2.288.325 đồng(hai triệu, hai trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/00005724 ngày 28/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nguyên đơn Anh Phạm Đức Ch có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2020), bị đơn Chị Nguyễn Thị V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2020/DSST ngày 18/06/2020 về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ trả tiền

Số hiệu:04/2020/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Sơn - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về