Bản án 04/2020/DS-ST ngày 10/01/2020 về tranh chấp giao dịch dân sự hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 04/2020/DS-ST NGÀY 10/01/2020 VỀ TRANH CHẤP GIAO DỊCH DÂN SỰ HỤI

Ngày 10 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2019/TLST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2019 về việc “Tranh chấp giao dịch dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị C, sinh năm 1960

Địa chỉ: Khu phố 5, phường M, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Phí Ngọc M, sinh năm 1989 là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 28/8/2019). Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Nguyệt H, sinh năm 1975. Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 5, phường M, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Anh D, sinh năm 1973. Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 5, phường M, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 8 năm 2019, đơn sửa đổi rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 20/11/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày như sau:

Bà C có tham gia dây hụi do bà H làm chủ hụi trong năm 2017 và 2018. Ngày 20/9/2017 âm lịch, bà C tham gia dây hụi gồm 15 thành viên với 02 chân hụi, đóng được 11 kỳ hụi, riêng chân thứ nhất thì hốt hụi vào kỳ đóng hụi thứ hai. Ngày 10/02/2018 âm lịch, bà C tham gia thêm 01 dây hụi gồm 15 thành viên với 01 chân hụi, đóng được 07 kỳ và chưa hốt hụi thì chủ hụi là bà H bỏ đi khỏi địa phương. Bà C và nhiều thành viên khác đã có đơn yêu cầu Công an thị xã Phước Long giải quyết và tại Công an thị xã Phước Long, bà C và bà H đã thống nhất số tiền hụi bà H còn nợ bà C từ hai dây hụi là 10.000.000 đồng. Và bà H cam kết sẽ trả số tiền trên bằng hình thức giao quyền sử dụng đất tại khu phố 5, phường M, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước cho tất cả những thành viên trong dây hụi nhưng đến nay bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Do đó, bà C làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Phước Long buộc bà H và chồng là ông Đoàn Anh D có nghĩa vụ liên đới trả cho bà C số tiền nợ hụi 10.000.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 11 năm 2019, bị đơn trình bày như sau:

Bà H thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà C.

Tại công an thị xã Phước Long bà H có đồng ý trả tiền cho bà C bằng đất nhưng hiện nay thửa đất đó đã cấn nợ cho người khác nên nay bà H đề nghị bà C cho bà H được trả dần số tiền nợ hụi 10.000.000 đồng theo từng năm, mỗi năm 3.000.000 đồng, năm cuối trả 4.000.000 đồng.

Đối với ông Đoàn Anh D thì không liên quan đến việc nợ hụi giữa bà H và các chân hụi vì ông D không tham gia và số tiền chơi hụi bà H sử dụng để xoay vòng trong các dây hụi với nhau, không sử dụng vào mục đích chung của gia đình.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 26 tháng 11 năm 2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:

Ông D và bà H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990 nhưng không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Từ năm 2017 cho đến nay, ông bà không còn sống chung, ông D làm khung rạp cưới hỏi tại thị xã Phước Long, còn bà H thì bỏ đi làm ở Đăk Nông. Do đó, việc bà H làm chủ hụi hay chơi hụi với ai thì ông D không biết nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C về việc buộc ông phải có trách nhiệm liên đới với bà H trả tiền nợ hụi cho bà C.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bà H và ông D có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi 10.000.000 đồng.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đây là vụ án Tranh chấp giao dịch dân sự về hụi giữa nguyên đơn Hồ Thị C và bị đơn Lê Thị Nguyệt H; Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại địa phận thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/11/2019. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như ý kiến trình bày của nguyên đơn và bị đơn, Hội đồng xét xử xác định bà C có tham gia dây hụi do bà H làm chủ và hiện bà H còn nợ bà C số tiền hụi là 10.000.000 đồng. Việc bà H thừa nhận số nợ và đồng ý trả là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ nên cần chấp nhận, buộc bà H có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền nợ hụi là 10.000.000 đồng.

[5] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Đoàn Anh D cùng có nghĩa vụ liên đới với bà H trả số tiền nợ hụi 10.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh được ông D có biết và tham gia vào các dây hụi do bà H làm chủ, mặt khác tại thời điểm mở các dây hụi ông D và bà H không còn sống chung, bà H cũng không sử dụng tiền hụi vào mục đích chung của gia đình.

Do đó, không có căn cứ để buộc ông D phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền trên nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về phần này.

[6] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự, Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị C.

Buộc bị đơn Lê Thị Nguyệt H trả cho nguyên đơn Hồ Thị C số tiền nợ hụi là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án thì ngoài số tiền chậm trả, hàng tháng người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí:

Bị đơn Lê Thị Nguyệt H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước hoàn trả cho nguyên đơn Hồ Thị C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 475.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006xxx ngày 11 tháng 9 năm 2019.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án 10/01/2020; Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2020/DS-ST ngày 10/01/2020 về tranh chấp giao dịch dân sự hụi

Số hiệu:04/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phước Long - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về