Bản án 04/2019/HS-ST ngày 09/01/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 04/2019/HS-ST NGÀY 09/01/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 513/2018/TLST- HS ngày 22 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3073/2018/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Bùi Trường Ng, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu: Đội 4, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 9/12; con ông: Bùi Tiến D; con bà Nguyễn Thị L; có vợ Nông Thị H, có 01 con sinh năm 2016; theo Danh chỉ bản số 0289 lập ngày 01/8/2018 tại Công an huyện Hoài Đức, thì nhân thân bị cáo: Bản án số 93 ngày 26/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 04 năm tù giam về tội Cố ý gây thương tích, ra trại ngày 31/8/2015, đã chấp hành xong các khoản án phí (Đã xóa án tích); bị bắt từ ngày 30/7/2018 hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội, số giam 3586Q1/B2, có mặt.

2. Phùng Minh Đ, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn P, xã Ph, huyện B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 12/12; con ông: Phùng Văn H; con bà Lê Thị Th; có vợ Nguyễn Vân H; có 1 con sinh năm 2005; theo Danh chỉ bản số 0290 lập ngày 01/8/2018 tại Công an huyện Hoài Đức, thì nhân thân bị cáo: Bản án số 236 ngày 29/10/2003 của TAND huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 236 ngày 15/12/2006 của TAND quận Long Biên, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù tội Trộm cắp tài sản. Bị bắt từ ngày 31/7/2018 hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội, số giam 3587Q1/B5, có mặt.

BỊ HẠI:

1. Chị Nguyễn Thị Chung Ng và  anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1999; nơi đăng ký hộ khẩu: số 21, đường P, phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; ở khu 7, thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI NGHĨA VỤ LIÊN QUAN:

Anh Phạm Văn A ; chỗ ở : số 275, phố T, phường C, quận B, Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt: Qua mối quan hệ xã hội, Bùi Trường Ng quen biết Phùng Minh Đ, Ng rủ Đ dùng xe máy đến các cửa hàng mua bán vàng bạc trên đường Quốc lộ 32 giả vờ mua vàng, lợi dụng sơ hở của chủ cửa hàng lấy vàng chạy ra ngoài, Đ nổ máy chờ sẵn Ng cầm vàng lên xe để tẩu thoát. Trong tháng 7/2018 cả hai đã gây ra 02 vụ cướp giật tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Tối ngày 26/7/2018, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 29L1-151.91, số khung 219953, số máy 219951 (Xe do Đ và Ng mượn của bạn là anh Nguyễn Văn Tuấn) chở Ng đi dọc Quốc lộ 32, hướng từ Cầu Diễn đi thị xã Sơn Tây để tìm cửa hàng vàng. Đến khoảng 21h30 cùng ngày, cả hai nhìn thấy cửa hàng vàng bạc Đa Phúc ở số A, Hà Nội không có người bảo vệ. Đ dừng xe trước cửa hàng chờ, còn Ng đi vào trong giả vờ là khách mua hàng, thấy anh Nguyễn Bá Đ đang bán hàng Ng yêu cầu anh Đ cho xem 01 dây chuyền vàng. Anh Đ lấy 01 dây chuyền vàng ký hiệu TD12K gắn 01 mặt bằng vàng Ý có gắn đá quý trên mặt, ký hiệu Italia 750 đưa cho Ng xem. Xem xong, Ng để dây chuyền trên mặt tủ kính và yêu cầu anh Đ cho xem tiếp một lắc đeo tay bằng vàng trong tủ kính. Anh Đ lấy chiếc lắc tay bằng vàng 10K đưa cho Ng xem. Ng giả vờ yêu cầu anh Đ tính tiền. Anh Đ cầm cả dây chuyền vàng và lắc vàng cân rồi báo giá cho Ng là 60.065.000 đồng rồi để dây chuyền vàng, lắc vàng trên mặt tủ kính trước mặt Ng. Khi thấy anh Đ không để ý Ng lấy dây chuyền vàng cùng lắc vàng trên mặt tủ kính bỏ chạy ra khỏi cửa hàng; lên xe máy do Đ nổ máy đợi sẵn và cả hai cùng đi về trung tâm thành phố Hà Nội. Sau đó, Ng và Đ mang số vàng chiếm đoạt được của anh Đ đến cửa hàng vàng Anh Thư ở số 275, phố T, Hà Nội, bán cho anh Phạm Văn A (là chủ cửa hàng) được 38.000.000 đồng ; chia nhau mỗi người được 19.000.000 đồng, sử dụng cá nhân hết.

Sau khi mua dây chuyền vàng và lắc vàng của Đ, Ng được khoảng 02 tuần, anh A đã nấu với các sản phẩm vàng khác rồi chế tác thành các sản phẩm nhẫn, dây chuyền, lắc để bán cho khách hàng. Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng vụ án.

Tại bản kết luận định giá số 93/TCKH-ĐGTS ngày 29/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội, kết luận: Tổng giá trị tài sản do Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ chiếm đoạt tại cửa hàng vàng bạc Đa Phúc của anh Nguyễn Bá Đ trị giá là 60.065.250 đồng.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu trắng có số khung RLHHC1250FY219953, số máy HC12E7219951 là phương tiện do Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ sử dụng phạm tội. Cơ quan điều tra đã xác minh và xác định chủ sở hữu xe là anh Vũ Văn Dũng, sinh năm 1991, trú tại thôn V, xã V, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Xe đăng ký ngày 14/7/2016 mang tên anh Dũng, biển kiểm soát 34B3-121.87 và bị mất trộm tại xã Văn Hội, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Khi bị mất xe, anh Dũng không trình báo với Cơ quan công an. Ngày 27/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức đã quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe Honda Wave màu trắng, số khung RLHHC1250FY219953, số máy HC12E7219951 cho anh Vũ Văn Dũng ; đồng thời chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện Ninh Giang để giải quyết theo thẩm quyền.

Qua điều tra, anh Nguyễn Văn Tuấn khai đầu năm 2018 mua chiếc máy Honda Wave alpha màu trắng đeo biển kiểm soát 29L1-151.91 của một người tên Hùng (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 10.000.000 đồng. Khi mua, Hùng nói đăng ký xe bị mất và sau đó anh Tuấn không liên lạc được với Hùng. Ngày 21/7/2018, anh Tuấn cho Đ và Ng mượn xe nhưng không biết Đ và Ng sử dụng xe máy để đi cướp giật tài sản. Hành vi trên của anh Nguyễn Văn Tuấn không đồng phạm với Đ và Ng về tội Cướp giật tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 24/10/2018, cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách rút tài liệu liên quan đến hành vi mua bán xe máy giữa anh Nguyễn Anh Tuấn và đối tượng tên Hùng để tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với việc anh Phạm Văn A là người mua 01 dây chuyền có gắn mặt dây vàng và 01 lắc tay vàng của Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ. Kết quả điều tra xác định khi mua, anh A không biết số vàng trên là do Ng, Đ cướp giật được mà có nên không phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Quá trình điều tra, anh A đã tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 3.000.000 đồng là tiền hưởng lợi từ việc mua bán vàng.

Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Chung Ng là chủ cửa hàng vàng bạc yêu cầu các bị can Ng và Đ phải bồi thường số tài sản đã bị chiếm đoạt là 60.065.250 đồng.

Vụ thứ hai: Trưa ngày 30/7/2018, Ng và Đ tiếp tục rủ nhau đi đến các cửa hàng vàng bạc trên đường Quốc lộ 32 để cướp giật tài sản. Đ đến phòng trọ của bạn là anh Cao Văn Huy, sinh năm 1988, ở ngõ 124, đường P, phường M, quận N, Hà Nội để mượn của anh Huy chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển kiểm soát 36M1- 099.89. Sau đó, Đ đi xe máy về ngõ 208, phố T, phường C, quận B đón Ng. Đ chở Ng đi dọc theo đường Quốc lộ 32 hướng đi lên thị xã Sơn Tây. Đến khoảng 21h cùng ngày, khi đến ngã tư Thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, cả hai thấy cửa hàng vàng bạc Hương Lan ở khu 7, thị trấn T, huyện H, Hà Nội, không có người bảo vệ. Đ lấy áo mưa che biển kiểm soát xe máy Yamaha Exciter để tránh bị phát hiện rồi dựng xe trước cửa hàng vàng bạc Hương Lan. Đ và Ng cùng đi vào trong cửa hàng gặp chị Nguyễn Thị Lan (Chủ cửa hàng) hỏi mua 02 sợi dây chuyền vàng giống nhau. Chị L trả lời không có 02 dây chuyền giống nhau và bảo mỗi người chọn 01 dây chuyền. Đ nói với Ng: „„Mày cứ chọn dây chuyền của mày đi, tao ra ngoài rút tiền rồi vào chọn dây của tao‟‟ rồi Đ ra lấy xe máy đi mua thuốc lá. Ng tưởng là Đ đi ra xe nổ máy chờ sẵn nên bảo chị L cho xem 02 dây chuyền vàng trong tủ kính. Xem xong, Ng hỏi chị L giá tiền thì chị L cân và báo giá là 54.257.000 đồng rồi để 02 dây chuyền trên mặt tủ kính trước mặt Ng. Thấy chị Lan sơ hở, Ng lấy 02 dây chuyền vàng chạy ra khỏi cửa hàng. Thấy vậy, chị L đuổi theo Ng và hô: „„Cướp,  cướp’’. Ng chạy ra khỏi cửa hàng thì không thấy Đ nên tiếp tục bỏ chạy về hướng ngã tư T. Khi Ng chạy được khoảng 300 mét thì bị tổ tuần tra thuộc Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động số 4 - Trung đoàn Cảnh sát cơ động, Công an thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật. Tổ tuần tra đã bàn giao Ng và tang vật cho Công an huyện H để giải quyết. Cùng thời gian trên, Đ đi mua thuốc lá về gần đến cửa hàng vàng bạc Hương Lan thì thấy Ng bị bắt giữ nên đi xe máy bỏ chạy. Đến ngày 31/7/2018,  Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện bắt giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 120/KL-ĐGTS ngày 27/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoài Đức, Hà Nội, kết luận: Tổng trị giá 02 sợi dây chuyền do Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Lan là 36.444.000 đồng.

Tang vật được Cơ quan điều tra thu giữ gồm:

- 01 dây chuyền vàng dài 58,5cm, rộng 0,5cm; 01 dây chuyền vàng, dài 52,5cm, rộng 0,8cm; 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu đen biển kiểm soát 36M1-099.89 cùng 01 xe máy Honda Wave màu trắng đeo biển kiểm soát 29V6-8583, số khung RLHHC1250FY219953, số máy HC12E7219951 (thu giữ của Phùng Minh Đ và Bùi Trường Ng).

- Số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của anh Phạm Văn A. 

Đối với anh Cao Văn Huy là người cho Phùng Minh Đ mượn chiếc xe máy Yamaha Exciter biển kiểm soát 36M1- 099.89. Kết quả điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đình Luân. Anh Luân cho anh Huy mượn xe máy làm phương tiện đi lại. Khi thấy Đ mượn xe, anh Huy đã cho Đ mượn lại chiếc xe trên. Khi cho mượn, anh Huy không biết Đ mượn xe máy để đi cướp giật tài sản nên không vi phạm pháp luật. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Đình Luân và Cao Văn Huy.

Ngày 27/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 chiếc xe máy Yamaha Exciter, biển kiểm soát 36M1-099.89 cùng 01 đăng ký xe máy cho chủ tài sản là anh Nguyễn Đình Luân; trao trả 02 dây chuyền vàng cho chủ tài sản là chị Nguyễn Thị L. Chị L không yêu cầu bồi thường về dân sự và đề nghị xử lý Đ, Ng theo pháp luật.

Cáo trạng số 461/CT- VKS- P2 ngày 19.11.2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Bùi Trường Ng, Phùng Minh Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

* Các bị cáo đã nhận tội và khai lại toàn bộ hành vi như đã được mô tả trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo nhận lỗi và mong muốn xin giảm nhẹ hình phạt.

* Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, giữ Ng quyết định truy tố và luận tội đối với các bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo đã đề nghị với Hội đồng xét xử phạt:

Bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ, mỗi bị cáo từ 05 đến 06 năm tù.

-  Về  trách  nhi ệm dân sự : Buộc 02 bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ phải bồi thường số tiền còn lại cho chị Nguyễn Thị Chung Ng và   anh Nguyễn  Bá Đ là 57.065.250 đồng.

-  Xử  l ý  v ật  ch ứng  : Trao trả số tiền đang thu giữ 3.000.000 đồng cho anh/chị Đ, Ng. Tịch thu tiêu hủy chiếc BKS 29V6- 8583 đang thu giữ.

Sau khi nghe các bên đề nghị;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự qui định.

 [2] Về căn cứ buộc tội, Điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở khẳng định: Hai bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ đã thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản bằng hành vi như đã mô tả như trên; với tổng tài sản chiếm đoạt là 96.465.250 đồng. Hành vi trên của 02 bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 với tình tiết định khung hình phạt: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm và tài sản có giá trị trên 50 triệu đồng”.

Cáo trạng đã truy tố 02 bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

 [3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, trong khoảng thời gian 04 ngày, các bị cáo đã sử dụng xe máy thực hiện 02 vụ Cướp giật tài sản của 02 cửa hàng vàng bạc tại các tuyến phố của ngoại thành Hà Nội để bán đi lấy tiền ăn tiêu.

Hành vi phạm tội đó của các bị cáo đã gây bức xúc, lo lắng cho nhân dân; ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.

Vai trò trong vụ án qua đánh giá hành vi thể hiện ra bên ngoài, thì Bùi Trường Ng có vai trò cao hơn Phùng Minh Đ.

 [4] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cần căn cứ vào tính chất hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hậu quả gây ra của từng bị cáo gây ra để quyết định.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều nhận tội, thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Nhân thân 02 bị cáo đều rất xấu, đã bị Tòa án kết án nhưng đều đã được đương nhiên xóa án tích theo luật định. Bị cáo Bùi Trường Ng có vai trò đầu vụ nên bị cáo nhận mức án cao hơn bị cáo Phùng Minh Đ.

Với tính chất hành vi rất nghiêm trọng, liều lĩnh, có sự bàn bạc thống nhất thủ đoạn và chuẩn bị trước về phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử thấy, cầm cách ly 02 bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài thì mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng người tội phạm chung.

 [6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc 02 bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ phải bồi thường số tiền còn lại cho chị Nguyễn Thị Chung Ng và   anh Nguyễn Bá Đ là 57.065.250 đồng. Chị Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên Tòa không xét.

Đối với chiếc xe máy anh Tuấn cho Đ mượn hiện liên quan đến vụ án tại Hải Dương nên cơ quan điều tra đã chuyển xe cùng chứng cứ tài liệu liên quan về Công an tỉnh Hải Dương giải quyết. Nay HĐXX không xét.

 [7] Xử lý vật chứng: Trao trả số tiền đang thu giữ 3.000.000 đồng cho anh/chị Đ, Ng. Tịch thu tiêu hủy chiếc BKS 29V6- 8583 đang thu giữ.

 [8] Các bị cáo phải nộp án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố  :

Các bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng

Điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử  phạt: Bị cáo Bùi Trường Ng 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 30/7/2018,

Xử  phạt: Bị cáo Phùng Minh Đ 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 31/7/2018.

II.  Về  trá ch  nhi ệm dân  sự và xử lý vật chứng  :

Áp dụng: Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án; điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Buộc 2 bị cáo Bùi Trường Ng và Phùng Minh Đ phải bồi thường ngay cho chị Nguyễn Thị Chung Ng và  anh Nguyễn Bá Đ số tiền là 57.065.250 đồng (Năm mươi bảy triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn hai trăm năm mươi đồng).

Chia theo phần: Bùi Trường Ng số tiền là 28.565.250 đồng; Phùng Minh Đ số tiền là 28.500.000 đồng.

- Tuyên trả lại số tiền 3.000.000 đồng đang thu giữ cho chị Nguyễn Thị Chung Ng và  anh Nguyễn Bá Đ.

 (Số tiền 3.000.000 đồng hiện đang nằm trong tài khoản số 3949.0.1052728 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, Kho bạc nhà nước Hà Đông theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 24/10/2018 do Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hà nội chuyển tiền vào).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất do ngân hàng nhà nước qui định, tương ứng với thời gian chưa thi hành án của khoản tiền chưa thi hành xong.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Tịch thu tiêu hủy chiếc BKS 29V6- 8583 đang thu giữ (Hiện Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội đang quản lý, theo biên bản nhận vật chứng ngày 11/12/2018 của thủ kho Vũ Ngọc Phúc).

*  Án phí: 02 bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Bùi Trường Ng phải nộp 1.428.000 đồng; Phùng Văn Đ phải nộp 1.425.000 đồng tiền án phí dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt bị hại, Tòa báo cho các bên biết quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo Bản án về phần dân sự liên quan đến mình./.


175
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về