Bản án 04/2018/HSST ngày 19/01/2018 về tội môi giới mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 04/2018/HSST NGÀY 19/01/2018 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 19/01/2018, tại Trụ sở TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2017/HSST ngày 22/11/2017; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/HSST- QĐ ngày 05/01/2018 đối với bị cáo:

Đoàn Thị Kim A, sinh năm 1969; Nơi sinh: BT; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 6, xã TC, huyện TP, tỉnh ĐN; Chỗ ở: ấp 5, xã PV, huyện ĐQ, tỉnh ĐN; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 01/12; con ông Đoàn Văn D, sinh năm 1944 và con bà Hồ Thị N, sinh năm 1958, bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chồng Phạm Văn M, sinh năm 1968, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1991 nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 29/7/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Thị Kim A là chủ quán cà phê “Tình Em” thuộc ấp 5, xã PV, huyện ĐQ, tỉnh ĐN. Do buôn bán ế ẩm nên từ tháng 7/2017 Kim A bắt đầu chuyển sang môi giới mại dâm bằng cách cho gái mại dâm lưu trú tại quán, lôi kéo khách mua dâm đến quán uống nước nhằm tăng thêm lợi nhuận từ việc bán nước giải khát. Khi có khách đến uống nước, nếu khách có nhu cầu mua dâm thì gái mại dâm thỏa thuận với khách, nếu không có gái mại dâm thì bị cáo Kim A đứng ra thỏa thuận giá cả với khách, giá mỗi lần mua bán dâm là 300.000 đồng.

Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 29/7/2017, Phạm Vũ Anh T, sinh năm 1987, cư trú tại ấp 1, xã PN, huyện ĐQ, và Trần Hưng T, sinh năm 1992, cư trú tại ấp 5 xã TS, đến quán cà phê “Tình Em” của Kim A uống nước. Trong khi uống nước, T có hỏi bị cáo “Quán có gái bán dâm không?”, Kim A nói “” và trực tiếp thỏa thuận giá cả mua bán dâm với T, hai bên thống nhất số tiền mua dâm là 600.000 đồng, Kim A đã nhận 600.000 đồng tiền mua dâm từ T. Bị cáo gọi Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1989, cư trú tại ấp TA, xã BT,  huyện TP, tỉnh BT và Đinh Thi Bích P, sinh năm 1975, cư trú tại đường Nguyễn Tri Phương, phường LP, thị xã TC, tỉnh AG, đang phục vụ tại quán của Kim A đi bán dâm cho khách, Kim A đưa tiền 600.000 đồng cho L, L đưa cho P số tiền 300.000 đồng mua bán dâm. Sau đó L và P sử dụng xe mô tô 60B4- 40642 đi cùng T và T đến nhà nghỉ “Bình Dân” thuộc ấp 5, xã PV, huyện ĐQ thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm. L và T vào phòng số 6, P và T ở phòng số 7 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi bán dâm thì bị lực lượng Công an kiểm tra lập biên bản. Công an điều tra ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Đoàn Thị Kim A về hành vi môi giới mại dâm.

* Vật chứng thu giữ được gồm:

- Thu giữ trên người của Nguyễn Thị Hồng L số tiền 600.000 đồng. trong đó 300.000 đồng tiền bán dâm nên tịch thu sung quy Nhà nước, 300.000 đồng tiền sinh hoạt cá nhân cơ quan điều tra đã trả lại cho L.

- Thu giữ trên người của Đinh Thị Bịch P số tiền 300.000 đồng là tiền bán dâm.

- Thu giữ trên người của Đoàn Thị Kim A số tiền 300.000 đồng số tiền này Cơ quan điều tra xã định không liên đến vụ án.

- 02 bao cao su đã qua sử dụng nên công an đã tiến hành tiêu hủy.

- 03 điện thoại di động các loại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu “VIETTEL” màu đỏ của bị cáo Kim A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu “ITEL” màu vàng của Nguyễn Thị Hồng L; 01 điện thoại di động Iphonel 6 Plus màu đỏ đen của Đinh Thị Bich P. Quá trình điều tra xác định 03 điện thoại này không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sử dụng.

- 01 xe mô tô biển số 60B4- 40642 của anh Cóng Lỏng S, anh S không biết P và L mượn để sủ dụng vào mục đích bán dâm nên cơ quan điều tra công an đã trả lại cho chiếc xe trên cho anh S.

Quá trình điều tra bị cáo Kim A đã nộp số tiền 150.000 đồng tiền thu lợi từ việc bán nước giải khát.

Cơ quan Công an huyện Định Quán đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi mua bán dâm của Nguyễn Thị Hồng L, Đinh Thị Bích P, Phạm Vũ Anh T, Trần Hưng T.

Đối với Nguyễn Văn L là chủ nhà nghỉ “Bình Dân”, L khai không biết các đối tượng vào nhà nghỉ để mua bán dâm nên chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự.

Tại bản cáo trạng số: 118/VKS-HS ngày 21/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐQ đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Kim A về tội: “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử  xem xét các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, học vấn thấp là tình tiết giãm nhẹ theo  điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim A từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

-Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 750.00đ.

- Tuyên trả lại cho bị cáo Kim A số tiền 300.000đ thu giữ trong vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Viện kiểm sát truy tố về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng, không oan sai và bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện ĐQ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐQ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi cấu thành tội phạm:

Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Thị Kim A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 29/7/2017 bị cáo đã đứng ra thỏa thuận mua bán dâm với Phạm Vũ Anh T, Trần Hưng T với giá 300.000đồng/01 người. Sau đó bị cáo gọi Đinh Thị Bích P và Nguyễn Thị Hồng L là gái bán dâm đang làm nhân viên của quán cà phê “Tình Em” do bị cáo làm chủ để bán dâm cho T và T. Khi đang thực hiện hành vi bán dâm tại nhà nghỉ “Bình Dân”, thuộc ấp 5, xã PV, huyện ĐQ thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện lập biên bản xử lý. Từ hành vi trên của bị cáo, đã đủ yếu tố cấu thành tội “môi giới mại dâm” với tình tiết định khung tăng nặng với “nhiều người” theo điểm e khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐQ truy tố bị cáo Đòan Thi Kim A về tội “Môi giới mại dâm” là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự công cộng mà còn ảnh hưởng xấu đến dư luận tại địa phương, trái với thuần phong mỹ tục. Để có thêm thu nhập, bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi “Môi giới mại dâm” đối với nhiều người nên cần đưa ra xét xử và áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung là cần thiết.

Tuy nhiên,  khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; đã thành khẩn khai báo, tỏ ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo học vấn thấp nên hạn chế hiểu biết pháp luật, gia đình hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là con duy nhất trong gia đình nuôi cha mẹ già yếu là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do Bộ luật hình sự năm 2015 có sự thay đổi theo hướng có lợi cho bị cáo so với Bộ luật hình sự năm 1999 về tội mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự 2015; khoản 3 Điều 7, điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự 2015 đề áp dụng những quy định có lợi cho bị cáo khi xét xử.

Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đồng là tang vật của vụ án. Hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện ĐQ (theo biên bản giao ngày 22/11/2017).

Hoàn trả số tiền 300.000đồng cho bị cáo do công an thu giữ vì số tiền này không liên quan đến việc phạm tội. Hoàn trả cho bị cáo số tiền 150.000 đồng tiền thu lợi từ việc bán nước giải khát do bị cáo đã nộp trong quá trình điều tra vì không có cơ sở cho rằng đây là số tiết thu lợi bất chính từ việc môi giới mại dâm của bị cáo. Số tiền này hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện ĐQ (theo biên bản giao ngày 22/11/2017).

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

-Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Kim A, phạm tội:“Môi giới mại dâm”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật hình sự 2015; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Kim A 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2017.

Về biện pháp tư pháp:

-   Áp dụng khoản 1 Điều 41- Bộ luật hình sự, Điều 76 – Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 600.000 đồng là tang vật của vụ án. (Hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện ĐQ theo biên bản giao ngày 22/11/2017).

Hoàn trả số tiền 300.000 đồng cho bị cáo do Công an thu giữ và số tiền 150.000 đồng bị cáo đã nộp trong quá trình điều tra. (Số tiền này hiện đang tạm giữ tại tài khoản của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện ĐQ, theo biên bản giao ngày 22/11/2017).

* Về án phí: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


468
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về