Bản án 04/2015/HNGĐ-PT ngày 03/08/2015 về tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 04/2015/HNGĐ-PT NGÀY 03/08/2015 VỀ TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

Ngày 03 tháng 8 năm 2015 tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 22/2014/HNGĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2014 về việc “Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2014/HNGĐ-ST ngày 29/09/2014 của Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2015/QĐ - PT ngày 16 tháng 7 năm 2015 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Huyền, sinh năm 1970; vắng mặt.

STQ: Thôn Mộc Ty, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Địa chỉ: 1. SZCZECINUL.BOLESTA WASMIAKEGO 38M. 6 POLAND

             2. BOL S MIATEGO 38/1, 70.347 SZCZECCIN, POLAND

- Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Anh Bùi Hồng Hải; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Thành Vinh - Luật sư của Công ty Luật TNHH Smic thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội và ông Trương Anh Tuấn - Luật sư của Công ty Luật TNHH Smic thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh; đều có mặt.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc Thành, sinh năm 1960; vắng mặt.

STQ: Thôn Nhạc Lộc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên;

- Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn Thịnh; trú tại: Số 4 B20, tổ 21, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm 1922 và bà Nguyễn Thị Sắc, sinh năm 1930; cùng trú tại: thôn Nhạc Lộc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

2. Cháu Nguyễn Trọng Đạt, sinh năm 1992; HKTT: Thôn Mộc Ty, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Văn Thịnh, sinh năm 1962 và chị Ngô Thị Hồng Hướng, sinh năm 1963; cùng hộ khẩu thường trú tại số 4 B20, tổ 21, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội; anh Thịnh có mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Hiếu, bà Sắc, chị Hướng: Anh Nguyễn Văn Thịnh, HKTT: số 4 B20, tổ 21, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội; có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Sắc, chị Hướng, anh Thịnh và ông Hiếu: Ông Nguyễn Trung Thành - Luật sư của Công ty Luật TNHH Hòa Lợi, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Nguyễn Khắc Thành và chị Lê Thị Huyền kết hôn năm 1991, có một con chung là cháu Nguyễn Trọng Đạt (sinh năm 1992). Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên anh Thành làm đơn xin ly hôn chị Huyền. Tại bản án số 02/2007/HNGĐ-ST ngày 13/02/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã quyết định cho anh Thành và chị Huyền được ly hôn. Về tài sản do các đương sự chưa yêu cầu nên Tòa án chưa giải quyết.

Ngày 23/3/2010, chị Huyền có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn gồm có hai diện tích đất được đấu thầu là 60m2 năm 1993 và 68m2 năm 1995. Chị và anh Thành đã bán 52m2, còn lại 8m2 nằm trong 76m2 đất còn lại; trên đất có một quán bán hàng; đất nông nghiệp của hai vợ chồng được chia.

* Nguyên đơn - chị Lê Thị Huyền trình bày:

- Về quyền sử dụng đất đấu thầu: ông Nguyễn Khắc Hiếu (là bố đẻ anh Thành) được tiêu chuẩn đấu thầu đất tại thôn Nhạc Lộc, Trưng Trắc, Văn Lâm, Hưng Yên 02 lần. Lần thứ nhất vào năm 1993 với diện tích 60m2, lần thứ hai vào năm 1995 với diện tích 68m2. Cả hai lần này ông Hiếu đều không có tiền nên chị đã vay mượn anh trai là anh Tân đưa cho ông Hiếu đi nộp và đứng ra đấu thầu.

Đối với diện tích đất đấu thầu lần thứ nhất là 60m2: chị đã được Ủy ban nhân dân huyện Văn Lâm cấp cho chị để làm nhà ở theo Quyết định số 167 ngày 16/3/1995. Sau đó chị Huyền đã bán cho ông Quản Thanh Xuân 52m2 (hiện tại là thửa 255, tờ bản đồ số 18 thôn Nhạc Lộc) với giá 52.000.000 đồng. Chị xác định diện tích 08m2 đất còn lại là tài sản chung giữa chị và anh Thành có trong thời kỳ hôn nhân, chị đề nghị nhập vào diện tích đất đấu thầu lần thứ hai để giải quyết.

Đối với diện tích đất đấu thầu lần hai là 68m2: Ngày 27/7/1993, chị vay tiền của anh Tân 3.000.000 đồng để ông Hiếu đứng ra đấu thầu cho chị, có phiếu thu ngày 01/11/1995. Chị xác định diện tích này cũng là của chị và anh Thành tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, ông Hiếu chỉ là người có tiêu chuẩn và đứng ra đấu thầu hộ cho chị vì ông Hiếu không có tiền.

- Tài sản trên đất: chị Huyền xác định chị đã xây 01 lán để bán hàng, các tài sản khác trên đất gồm 01 giếng khoan, 01 bể nước và khu vệ sinh chị không xây, chị cũng không biết ai đứng ra xây vì lúc đó chị đang ở nước ngoài. Nay chị xác định 08m2 đất đấu thầu lần thứ nhất còn lại và 68m2 đất đấu thầu lần thứ hai, tổng là 76m2 và 01 lán cấp 4 diện tích khoảng 35m2 là tài sản của chị và anh Thành trong thời kỳ hôn nhân, chị đề nghị chia cho chị và anh Thành theo công sức đóng góp và nguồn tiền đóng góp. Chị đề nghị Tòa án giao cho chị được quản lý và sử dụng diện tích 76m2 đất này.

- Về ruộng nông nghiệp: Chị và cháu Đạt được chia theo tiêu chuẩn 624m2, sau khi thành lập khu công nghiệp tại địa phương, phần ruộng của hai mẹ con chị đã bị lấy vào 48m2, chị không yêu cầu. Còn lại 576m2 bao gồm ở Đồng Môi 72m2, Đồng Thuế 127,2m2 và Trầm Tròi 376,8m2, vậy mỗi người còn được sử dụng 288m2. Chị đề nghị ông Hiếu và bà Sắc trả lại cho chị ruộng ở Đồng Thuế và trả cho cháu Đạt phần ruộng tiêu chuẩn của cháu ở Trầm Tròi. Cháu Đạt nhất trí. Chị Huyền còn cho biết năm 2012, chị đã nhận tiền Nhà nước đền bù thu hồi ruộng 72m2 ở Đồng Môi.

* Bị đơn anh Nguyễn Khắc Thành, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Khắc Hiếu, bà Nguyễn Thị Sắc, chị Ngô Thị Hồng Hướng và anh Nguyễn Văn Thịnh thống nhất trình bày:

Đối với diện tích đất đấu thầu lần thứ nhất vào năm 1993 là 60m2 do ông Nguyễn Khắc Hiếu đứng ra đấu thầu, hợp đồng đấu thầu ghi rõ số tiền và diện tích 60m2 ghi tên ông Hiếu. Diện tích đất này Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Văn đã có Quyết định cho chị Huyền được quyền sử dụng, sau đó chị Huyền đã bán 52m2 cho ông Quản Thanh Xuân. Mặc dù khi chị Huyền bán không được sự nhất trí của gia đình nhưng đến nay gia đình đã thống nhất xác định diện tích 08m2 còn lại là tài sản chung của anh Thành và chị Huyền. Đề nghị Tòa án giao cho anh Thành quản lý sử dụng và trả chênh lệch cho chị Huyền.

Đối với diện tích đất đấu thầu lần thứ hai là 68m2 vào năm 1995 do ông Hiếu trực tiếp tham gia đấu thầu, có phiếu thu ngày 01/11/1995 với số tiền là 6.000.000đồng, nguồn tiền là của anh Nguyễn Văn Thịnh đưa cho ông Hiếu đi nộp. Anh Thịnh xác định diện tích đất đấu thầu lần 2 là của ông Hiếu, hiện vẫn mang tên ông Hiếu trên sổ mục kê và bản đồ từ năm 2003, không phải là tài sản chung của chị Huyền và anh Thành như chị Huyền khai. Đề nghị Tòa án giao cho ông Hiếu quản lý, chờ Ủy ban nhân dân huyện Văn Lâm giải quyết.

- Tài sản trên đất: Có một căn nhà cấp 4 lợp prôximăng, bể nước, giếng khoan, khu vệ sinh. Các tài sản này đều do ông Hiếu xây dựng, ban đầu do chị Huyền không có nghề nghiệp nên cho chị Huyền sử dụng bán hàng nước kiếm thêm thu nhập. Sau khi chị Huyền đi Ba Lan, ông Hiếu giao cho con trai út sử dụng một thời gian rồi cho thuê. Từ khi xảy ra tranh chấp, ngôi nhà cấp 4 bỏ hoang, không ai sử dụng. Nay anh đề nghị giao trả cho ông Hiếu sở hữu.

- Về ruộng nông nghiệp: Phần ruộng tiêu chuẩn của chị Huyền và cháu Đạt hiện nay ông Hiếu và bà Sắc đã trả lại toàn bộ giấy tờ, ông Hiếu và bà Sắc cũng không quản lý sử dụng tiêu chuẩn ruộng của chị Huyền, cháu Đạt.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2011/HNGĐ-ST ngày 08/3/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên quyết định:

+ Xác nhận 08m2 nằm trong 76m2 tại thửa 256, tờ bản đồ 18, đứng tên ông Nguyễn Khắc Hiếu là tài sản chung của anh Thành, chị Huyền. Giao chị Huyền quản lý, sử dụng.

+ Tạm giao 68m2 còn lại tại thửa 256, tờ bản đồ 18, đứng tên ông Nguyễn Khắc Hiếu cho chị Huyền quản lý, chờ Ủy ban nhân dân huyện Văn Lâm giải quyết theo thẩm quyền.

+ Chị Huyền phải trả chênh lệch về tài sản cho anh Thành 08 triệu đồng.

+ Về ruộng canh tác: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Huyền và cháu Đạt, giao chị Huyền quản lý sử dụng 72m2 ở Đồng Môi; 127,2m2 ở Đồng Thuế; giao cháu Đạt quản lý sử dụng 376,8m2 ở Trầm Tròi. Giao cho chính quyền địa phương thực hiện việc chia ruộng nêu trên.

Không nhất trí với phán quyết nêu trên, anh Thành đã kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 114/2011/HNGĐ-PT ngày 09/6/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngày 23/5/2012, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm số 114/2011/HNGĐ-PT ngày 09/6/2011 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy cả hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử lại sơ thẩm.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 32/2013/HNGĐ-GĐT, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Quyết định hủy cả hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử lại sơ thẩm.

Ngày 29/5/2013, Tòa án nhân tỉnh Hưng Yên đã thụ lý lại vụ án số 06/2013/TLHNGĐ-ST về việc “Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” và đã tổ chức hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành.

Ngày 05/12/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp, ra Quyết định về việc định giá tài sản. Kết quả định giá của Hội đồng định giá huyện Văn Lâm ngày 21/5/2014 đã xác định: Về giá trị quyền sử dụng đất: Tổng diện tích đất thực tế là 76m2 x 2.500.000 đồng/m2 x 110% = 209.000.000 đồng; Về tài sản trên đất (đã khấu trừ khấu hao): có 01 lán trị giá 3.416.100 đồng, 01 bể nước 105.000 đồng, 01 giếng khoan 1.104.000 đồng. Tổng giá trị tài sản hiện đang có tranh chấp là 213.625.100 đồng. Chị Huyền và anh Thịnh đều nhất trí về việc định giá các giá trị tài sản này.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 10/2014/HNGĐ-ST ngày 29/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã quyết định áp dụng các điều 95, 97 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 136 Luật đất đai, khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự; Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huyền. Xác định 08m2 nằm trong 76m2 đất tại thửa 256, tờ bản đồ số 18 năm 2003 thôn Nhạc Lộc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm hiện đứng tên ông Nguyễn Khắc Hiếu là tài sản chung của anh Thành và chị Huyền có giá trị 22.000.000đồng. Giao cho anh Thành có quyền quản lý, sử dụng. Buộc anh Thành có nghĩa vụ thanh toán cho chị Huyền 1/2 giá trị bằng 11.000.000đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Huyền về việc xác định và phân chia cho chị và anh Thành diện tích 68m2 đất tại thửa 256, tờ bản đồ số 18 tại thôn Nhạc Lộc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm (đất ông Hiếu đấu thầu lần 2 năm 1995) hiện đứng tên ông Nguyễn Khắc Hiếu.

Tạm giao cho ông Nguyễn Khắc Hiếu quản lý 68m2 đất nêu trên, chờ Ủy ban nhân dân huyện Văn Lâm giải quyết theo thẩm quyền.

3. Không chấp nhận yêu cầu của chị Huyền về việc xác định và phân chia cho chị và anh Thành ngôi lán cấp 4 có giá trị 3.416.100 đồng.

Xác định các tài sản gồm: 01 lán cấp 4 xây tường 110, mái lợp Phibroximang đã cũ nát, có giá trị 3.416.100đồng; 01 bể nước xây gạch ghiêng = 105.000 đồng; 01 giếng khoan = 1.104.000 đồng do ông Hiếu xây dựng và tạo lập. Giao cho ông Hiếu có quyền sở hữu.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2015, chị Lê Thị Huyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cho rằng: Về tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm không đáp ứng yêu cầu của chị về việc bổ sung chứng cứ đó là bản gốc các giấy tờ của lần đấu thầu năm 1993 và không xác minh ranh giới đất hai lần được đấu thầu. Không làm rõ tứ cận của thửa đất, không xác định rõ diện tích đất chị Huyền được giao. Về nội dung, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét vụ án khách quan, hai lần đấu thầu đất đều là của chị Huyền. Chị đã được cơ quan Nhà nước giao 68m2 đất đang tranh chấp, có công san lấp, quản lý, sử dụng từ năm 1995 đến khi đi nước ngoài và hiện không có chỗ ở. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tạm giao đất cho ông Nguyễn Khắc Hiếu là không có căn cứ pháp luật.

Ngày 02/3/2015, chị Huyền có đơn trình bày bổ sung kháng cáo cho rằng diện tích 68m2 tại thửa 256 là đất công, thôn chưa tổ chức đấu thầu, chưa giao cho ai, ông Hiếu sử dụng là trái pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm giao diện tích đất đó cho ông Hiếu đã hợp pháp hóa hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai của thôn Nhạc Lộc. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không tạm giao 68m2 đất cho ông Hiếu và giao cho chị 08m2 đất nằm trong 76m2 đất tại thửa 256.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có quan điểm: Bản án sơ thẩm đã sai sót khi xác định tài sản trên thửa đất 68m2 là tài sản hợp pháp để giao cho ông Hiếu. Bởi lẽ diện tích đất này là đất lấn chiếm, được giao không đúng theo quy định của pháp luật. Cho dù tài sản trên đất là do ông Hiếu bỏ tiền ra xây dựng nhưng vì tạo lập trên đất lấn chiếm nên tất cả tài sản trên đất đó không phải là tài sản hợp pháp. Bản án sơ thẩm còn viện dẫn chưa đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, khắc phục những sai sót của bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn cho rằng Hội đồng xét xử đã làm rõ kháng cáo của nguyên đơn, phía nguyên đơn cho rằng diện tích 68m2 là đất công, phía nguyên đơn không tranh chấp diện tích đất này. Nguyên đơn cho rằng diện tích đất này phải giao cho Ủy ban nhân dân xã quản lý là không đúng bởi thực tế ông Hiếu đã bỏ 6.000.000đồng để đấu thầu diện tích đất này. Diện tích đất này đã được thôn đấu thầu và đã được ghi vào sổ mục kê là của gia đình ông Hiếu và gia đình ông Hiếu đã xây dựng bể nước trên đó bằng nguồn tiền của gia đình ông Hiếu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận diện tích 68m2 là của gia đình ông Hiếu. Về diện tích 8m2 nếu giao cho chị Huyền thì không đủ để chị Huyền xây nhà nên đề nghị Hội đồng xét xử giao 8m2 đất này cho gia đình ông Hiếu để gia đình ông Hiếu sử dụng và sẽ có trách nhiệm thanh toán chênh lệch 4m2 cho chị Huyền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao sau khi tham gia thẩm vấn, nghe các bên tranh luận, phân tích nội dung, các chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện đã khẳng định: ông Hiếu có đủ điều kiện để tham gia đấu thầu đất tại thôn Nhạc Lộc 2 lần. Đối với diện tích đất 68m2 đấu thầu lần 2 tuy chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông Hiếu là người tham gia đấu thầu và nộp tiền đấu thầu nên Tòa án cấp sơ thẩm giao cho gia đình ông Hiếu quản lý để thực hiện các thủ tục pháp lý với cơ quan có thẩm quyền là phù hợp. Mặt khác, hiện tại diện tích đất 08m2 (đất đấu thầu đợt I) được xác định là tài sản chung của anh Thành, chị Huyền trong thời kỳ hôn nhân là diện tích nhỏ, không thể chia bằng hiện vật nên án sơ thẩm quyết định giao cho anh Thành và buộc anh Thành phải thanh toán 1/2 giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền cho chị Huyền là phù hợp. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp tài sản chung sau ly hôn và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh (do chị Huyền khi khởi kiện đang cư trú tại nước ngoài) là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự có mặt hoặc ủy quyền hợp pháp; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách thức giải quyết vụ án liên quan đến kháng cáo nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Theo lời khai của các bên đương sự, chứng cứ do các bên cung cấp, lời khai những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đủ căn cứ để kết luận: Ông Nguyễn Khắc Hiếu là bố chồng chị Huyền có tiêu chuẩn đấu thầu đất tại thôn Nhạc Lộc hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1993, với diện tích 60m2. Do ông Hiếu không có tiền nên chị Huyền đã vay của anh trai là anh Lê Văn Tân 3.000.000đồng để nộp tiền đất đấu thầu. Vợ chồng ông Hiếu, bà Sắc (vợ ông Hiếu) đã “nhượng lại” diện tích đất này cho vợ chồng anh Thành, chị Huyền. Ngày 16/3/1995, Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Văn đã ra quyết định số 167/QĐ-UB cho phép chị Huyền được sử dụng diện tích đất này để làm nhà ở. Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất 60m2 do ông Hiếu được tiêu chuẩn đấu thầu lần 1 và đã chuyển nhượng cho vợ chồng chị Huyền là tài sản chung của vợ chồng chị Huyền là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bên đương sự đều thống nhất xác định diện tích đất này là tài sản chung của vợ chồng. Năm 1995, vợ chồng chị Huyền đã chuyển nhượng 52m2 đất trong số 60m2 đất của mình cho ông Quản Thanh Xuân nên chỉ còn lại 8m2. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất này là tài sản chung của chị Huyền, anh Thành và chia mỗi người được 1/2 là đúng pháp luật. Chị Huyền kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giao cho chị diện tích đất này, Hội đồng xét xử thấy rằng: thứ nhất, diện tích đất này rất nhỏ chỉ là 8m2 vừa không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vừa không phù hợp với việc tạo lập chỗ ở; thứ hai, chị Huyền hiện không sinh sống tại thôn Nhạc Lộc nên giao đất cho chị là không phù hợp.

Đối với diện tích đất 68m2 (đất đấu thầu lần hai): tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và lời khai của các bên đương sự có cơ sở để xác định nguồn tiền nộp đấu thầu đất lần hai là của ông Nguyễn Khắc Hiếu chứ không phải là của chị Huyền. Trong đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung của chị Huyền, bản thân chị Huyền cũng bất nhất về việc tham gia đấu thầu đất lần này. Lúc thì chị cho rằng tiền là của chị vay anh Tân và đất này là của chị, lúc chị lại cho rằng thôn Nhạc Lộc chưa đấu thầu đất, ông Hiếu sử dụng đất do lấn chiếm trái pháp luật. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh tại địa phương của Tòa án cấp sơ thẩm thì phần đất đấu thầu lần hai nêu trên hiện thuộc thửa 256, tờ bản đồ số 18 do ông Hiếu đứng tên; ông Hiếu cũng là người đang quản lý đất này. Như vậy, diện tích đất này mới chỉ thể hiện trong bản đồ và sổ mục kê và việc đấu thầu cũng không đúng quy định của pháp luật (do tổ chức đấu thầu không đúng thẩm quyền) và vì vậy chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm tạm giao cho ông Hiếu tiếp tục quản lý để thực hiện các thủ tục pháp lý với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền liên quan đến phần đất này là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do diện tích đất là tài sản chung của chị Huyền, anh Thành còn lại rất nhỏ (8m2) lại nằm trong 68m2 đất tiêu chuẩn ông Hiếu được đấu thầu lần hai nên Tòa án cấp sơ thẩm giao cho anh Thành quản lý, sử dụng là phù hợp.

Như phân tích trên, việc chị Huyền kháng cáo liên quan đến giao đất là tài sản chung cho anh Thành sử dụng và tạm giao đất đấu thầu lần hai cho ông Hiếu quản lý không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quá trình thụ lý vụ án để giải quyết theo trình tự phúc thẩm, chị Huyền có gửi đơn tố cáo việc đấu thầu đất trái pháp luật của chính quyền thôn Nhạc Lộc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Huyền trình bày trước phiên tòa phúc thẩm không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 10/2014/HNGĐ-ST ngày 29/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, cụ thể như sau:

Áp dụng Điều 95, 97 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 136 Luật đất đai; khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự; Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huyền. Xác định 08m2 đất nằm trong 76m2 đất tại thửa 256, tờ bản đồ số 18 năm 2003 thôn Nhạc Lộc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm hiện đứng tên ông Nguyễn Khắc Hiếu là tài sản chung của anh Thành và chị Huyền có giá trị 22.000.000 đồng. Giao cho anh Thành có quyền quản lý, sử dụng. Buộc anh Thành có nghĩa vụ thanh toán cho chị Huyền 1/2 giá trị bằng 11.000.000 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Huyền về việc xác định và phân chia cho chị và anh Thành diện tích 68m2 đất tại thửa 256, tờ bản đồ số 18 tại thôn Nhạc Lộc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm (đất ông Hiếu đấu thầu lần 2 năm 1995) hiện đứng tên ông Nguyễn Khắc Hiếu.

Tạm giao cho ông Nguyễn Khắc Hiếu quản lý 68m2 đất nêu trên, chờ Ủy ban nhân dân huyện Văn Lâm giải quyết theo thẩm quyền.

3. Không chấp nhận yêu cầu của chị Huyền về việc xác định phân chia cho chị và anh Thành ngôi lán cấp 4 có giá trị 3.416.100 đồng.

Xác định các tài sản gồm: 01 lán xây cấp 4 tường 110, mái lợp Phibroximang đã cũ nát, có giá trị 3.416.100 đồng; 01 bể nước xây gạch nghiêng = 105.000 đồng; 01 giếng khoan = 1.104.000 đồng do ông Hiếu xây dựng và tạo lập. Giao cho ông Hiếu có quyền sở hữu.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Thành phải chịu 550.000 đồng án phí chia tài sản chung. Chị Huyền phải chịu 550.000 đồng án phí chia tài sản chung và 10.070.805 đồng án phí đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Đối trừ với số tiền 2.000.000 đồng chị Huyền đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 00344 ngày 26/3/2010 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, chị Huyền còn phải nộp tiếp số tiền 8.620.805 đồng.

Chị Lê Thị Huyền phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận chị Huyền đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000003 ngày 21/10/2014 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong các khoản tiền trên thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


1303
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 04/2015/HNGĐ-PT ngày 03/08/2015 về tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Số hiệu:04/2015/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/08/2015
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về