Bản án 03/2021/HSST ngày 14/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 03/2021/HSST NGÀY 14/01/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thâm, công khai vu an hinh sư thu ly số 184/2020/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2020, theo Quyêt đinh đưa vu an ra xet xư sô 03/2020/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 01 năm 2021, đôi vơi bi cao:

Khúc Thị H, sinh ngày 03/02/1987 tại T; Nơi cư trú: Số nhà 171, khu 05, thị trấn D, huyện Th, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khúc Ngọc Tr và bà Trịnh Thị Kh; Chưa có chồng, con; Tiền án: Bản án số 63/2009/HSST ngày 20/10/2009 của TAND huyện Th, tỉnh T xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy", Chấp hành xong bản án ngày 01/9/2014; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 24/2016/HSST ngày 22/4/2016 của TAND huyện Th, tỉnh T xử phạt 03 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", Chấp hành xong bản án ngày 02/3/2018.

Bị tạm giữ từ ngày 04/10/2020 đến ngày 13/10/2020 chuyển tạm giam đến nay; Trích xuất, Có mặt.

* Bị hại: Chị La Hồng Ng, sinh năm 2000; Trú tại: Số nhà 01, ngõ 455, đường L, tổ 15, phường K, thành phố T, tỉnh T (Vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967; Trú tại: Số nhà 20, ngõ 455, đường L, tổ 14, phường K, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt).

- Anh Lê Anh T, sinh năm 1989; Trú tại: Số nhà 01, ngõ 455, đường L, tổ 15, phường K, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt).

- Bà Đỗ Thị Ng, sinh năm 1965; Trú tại: Số nhà 32, ngõ 455, đường L, tổ 14, phường K, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cac tai liêu co trong hô sơ vu an va diên biên tai phiên toa , nôi dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 04/10/2020 tại số nhà 01, ngách 21, ngõ 455, đường L, tổ 15, phường K, thành phố T, quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang Khúc Thị H đang thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu Sunra, sơn màu cam, biển số 29MĐ2 - 016.76 của chị La Hồng Ng.

Quá trình điều tra Khúc Thị H khai nhận: Do không có tiền tiêu sài nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/10/2020, H và Vũ Hữu K, sinh năm 1984, trú tại số nhà 131, đường N, tổ 19, phường K, thành phố T, tỉnh T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Mio, sơn màu xanh (H không nhớ biển số xe) chở H đi quanh khu vực thành phố T xem ai sơ hở tài sản thì trộm cắp. Khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày K và H đi đến ngách 21, ngõ 455, đường L, phường K, thành phố T phát hiện tại chân cầu thang tầng 01 nhà số 01 có dựng 01 xe máy điện nhãn hiệu Sunra, sơn màu cam, biển số 29MĐ2 – 016.76 của sinh viên thuê trọ. Quan sát thấy cửa không khóa, không có người, K dựng xe mô tô ngoài ngõ bảo H đứng ngoài cảnh giới để K vào lấy xe, H đồng ý, K đi vào trong sân đến dắt chiếc xe máy điện ra chỗ H đưa và bảo H dắt xe máy điện ra đường, còn K điều khiển xe mô tô của K đi trước. Khi H đang dắt chiếc xe máy điện K đưa ra đầu ngõ thì bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt giữ báo cho Công an đưa về trụ sở Công an phường K, thành phố T làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản sô 39/KLĐG-HDĐG ngày 08/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình kết luận: Trị giá tài sản chiếc xe máy điện nhãn hiệu Sunra, sơn màu cam, biển số 29MĐ2-016.76 là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Tại bản C áo trạng số 04/CT-VKSTPTB ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Viên kiêm sat nhân dân thanh phô Thai Binh truy tô Khúc Thị H vê tôi “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điêu 173 Bô luât Hinh sư.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận kiểm sát viên luận tội bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Khúc Thị H phạm tội "Trộm cắp tài sản". Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt Khúc Thị H mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tổ tụng hình sự đề nghị tịch thu 01 kìm kim loại, kích thước 47 x 13 cm. 01 ba lô vải màu đen, kích thước (40x 30) cm để tiêu hủy. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, Khúc Thị H khai và thừa nhận khoảng 19 giờ 50 phút ngày 04/10/2020 tại ngõ 455, đường L, tổ 15, phường K, thành phố T bị cáo đã bị quần chúng nhân dân bắt quả tang trộm cắp chiếc xe máy điện nhãn hiệu Sunra, sơn màu cam, biển số 29MD2 - 016.76 như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã mô tả, bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên.

Khi được trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sơ nôi dung vu an , căn cư vao cac tai liêu trong hô sơ vu an đa đươc tranh tụng tại phiên tòa, Hôi đông xet xư nhân định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tổ tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tụng đã tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng được chứng minh bằng biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, biên bản trích xuất camera, kết luận định giá tài sản số 39/KLĐG - HDĐG ngày 08/10/2020 và các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm, hành vi và loại tài sản bị cáo đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 04/10/2020 tại số nhà 01, ngách 21, ngõ 455, đường L, tổ 15, phường K, thành phố T, Khúc Thị H bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Sunra, biển số 29MĐ2- 016.76 có trị giá 4.000.000 đồng của chị La Hồng Ng là sinh viên thuê trọ. Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm tài sản quyền sở hữu của người Kc được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó của Khúc Thị H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố là có căn cứ. Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người Kc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....." [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây tâm lý bất an, lo lắng cho quần chúng nhân dân nên cần phải xét xử nghiêm minh, dành cho bị cáo mức hình phạt thỏa đáng mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo đã 02 lần bị kết án, căn cứ khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự về xóa án tích thì bản án số 63/2009/HSST ngày 20/10/2009 của TAND huyện Th, tỉnh T tính đến ngày phạm tội lần này (04/10/2020) chưa được xóa án tích, còn bản án số 24/2016/HSST ngày 22/4/2016 của TAND huyện Th, tỉnh T đã được xóa án tích, do vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Tái phạm) theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: Bản án số 24/HSST ngày 22/4/2016 của TAND huyện Th, tỉnh T xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" tính đến thời điểm phạm tội lần này đã được xóa nhưng xác định bị cáo là người có nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại hạn chế hậu quả thuộc trường hợp phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và nhận định trên, căn cứ vào tính chất vụ án, đặc điểm về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử lên mức án tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Đối với Vũ Hữu K, sinh năm 1984, trú tại: số nhà 131, đường N, tổ 19, phường K, thành phố T. Căn cứ lời khai của bị cáo H, quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu thập trích xuất camera hiện trường vụ án, triệu tập ghi lời khai của K để đấu tranh làm rõ đồng thời tiến hành cho K đối chất với bị cáo Khúc Thị H, nhưng K khai không gặp và không cùng H thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy điện trên vào tối ngày 04/10/2020. Ngoài lời khai bị cáo H không cung cấp được chứng cứ nào Kc nên chưa có căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của Vũ Hữu K nên Cơ quan điều tra tiếp tục đấu tranh, điều tra làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu trong tình trạng nguyên vẹn, bị hại không có yêu cầu gì Kc nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu Sunra, sơn màu cam, biển số 29MĐ2- 016.76 là tài sản bị chiếm đoạt. Kết quả điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của chị La Hồng Ng. Ngày 30/11/2020, Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả lại cho chị Ngát là phù hợp. Đối với 01 chiếc kìm bằng kim loại sáng màu, kích thước (47x13)cm, tay bọc nhựa màu xanh dài 12 cm; 01 ba lô vải màu đen, kích thước (40 x30)cm do Khúc Thị H giao nộp cho cơ quan Công an, H khai mang theo nhằm mục đích dùng làm công cụ để trộm cắp tài sản, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo Khúc Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Quyền Kng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền Kng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,  

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bô bi cao Khúc Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xư phat bị cáo Khúc Thị H 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 04/10/2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả lại cho chị La Hồng Ng 01 xe máy điện nhãn hiệu Sunra, sơn màu cam, biển số 29MĐ2- 016.76. Bị hại không yêu cầu gì Kc nên không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu 01 chiếc kìm bằng kim loại sáng màu, kích thước (47x13) cm, tay bọc nhựa màu xanh dài 12 cm; 01 ba lô vải màu đen, kích thước (40 x30) cm để tiêu hủy.

(Vật chứng và tài sản đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình quản lý có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/12/2020).

5. Về án phí: Bị cáo Khúc Thị H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền Kng cáo: Bị cáo Khúc Thị H có quyền Kng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kế từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/01/2021. Bị hại vắng mặt có quyền Kng cáo bản án trong hạn 15 ngày kế từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2021/HSST ngày 14/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:03/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về