Bản án 03/2021/HNGĐ-ST ngày 23/04/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

 BẢN ÁN 03/2021/HNGĐ-ST NGÀY 23/04/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 301/ 2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2020 về “Ly hôn; tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm S, sinh năm 19xx Địa chỉ: Số nhà xx, ngõ xx, đường PHT, phố x, phường VG, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình

2. Bị đơn: Chị Bùi Thị Tố U, sinh năm 19xx Địa chỉ: Số nhà xx, ngách xx, ngõ xxx, đường NCT, phố PS, phường NB, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa anh S có mặt, chị U vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, anh Phạm S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị Tố U có đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 02 năm 2011 tại UBND phường VG, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng ba năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, trong công việc làm ăn. Cuộc sống chung giữa anh và chị U luôn xảy ra tranh cãi, giận hờn, oán trách có khi nhiều tháng không nói chuyện với nhau dẫn đến mâu thuẫn trở nên trầm trọng. Vì vậy tháng 8 năm 2020 chị U đã về nhà bố mẹ đẻ ở nên anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không ai quan tâm đến ai, vì vậy anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị U.

Về con chung: Anh và chị U có 02 con chung là cháu Phạm Khánh P, sinh ngày 09/11/2011 và cháu Phạm Lâm B, sinh ngày 16/10/2013. Nếu Toà án giải quyết ly hôn anh xin được nuôi cả hai cháu.

Về cấp dưỡng cho con chung: Anh không yêu cầu chị U cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh.

Về tài sản chung; công nợ chung: Anh S đề nghị anh và chị U tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và biên bản hoà giải chị Bùi Thị Tố U trình bày:

Chị và anh Phạm S kết hôn ngày 08/02/2011, anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường VG, thành phố NB, từ khi kết hôn anh chị sống tại nhà của mẹ chồng. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị không có mâu thuẫn lớn, chỉ là những vụn vặt mà anh S hay để ý, chấp chiếm với chị, nhưng những việc đó chị không cho là lớn và không để ý. Nay anh S làm đơn ly hôn quan điểm của chị là không nhất trí ly hôn, chị vẫn còn tỉnh cảm với anh S. Vì vậy, chị đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành.

Về con chung: Chị và anh S có hai con chung là cháu Phạm Khánh P, sinh ngày 09/11/20xx và cháu Phạm Lâm B, sinh ngày 16/10/20xx. Chị không đồng ý ly hôn nên không đề nghị giải quyết. Trường hợp nếu Toà án giải quyết cho anh S Ly hôn thì chị đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung; công nợ chung: Chị xác định chị và anh S không có tài sản chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Phạm Khánh P và cháu Phạm Lâm B các cháu đều có nguyện vọng nếu Toà án giải quyết ly hôn các cháu được ở với mẹ.

Tại biên bản xác minh ngày 19/3/2021 tổ trưởng tổ dân phố 4, phường Vân Giang cung cấp: Quá trình anh S, chị U chung sống có sảy ra mâu thuẫn hay không địa phương không biết vì anh chị không thông báo, hiện nay anh S vẫn sinh sống tại phường Vân Giang còn chị U chuyển đi đâu không biết.

Tại phiên tòa anh Phạm S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử xử cho anh được ly hôn chị U vì mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, hai bên không còn quan tâm đến nhau, nếu kéo dài cuộc hôn nhân cũng không có hạnh phúc.

Về con chung: Anh S đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng tiền cho con: Anh không yêu cầu chị U cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh.

Chị Bùi Thị Tố U có đơn xin xử vắng mặt và trình bày quan điểm của chị không đồng ý ly hôn vì giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng, chị vẫn mong muốn giữ gia đình, hơn nữa các con chị cũng rất cần một gia đình đầy đủ cả bố và mẹ, để các con được nuôi dậy trong điều kiện tốt nhất. Tuy nhiên nếu anh Phạm S vẫn kiên quyết ly hôn đơn phương thì chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều được đảm bảo theo quy định của luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm S. Cho anh Phạm S được ly hôn với chị Bùi Thị Tố U. Về con chung: Giao cháu Phạm Khánh P, sinh ngày 09/11/2011 cho anh Phạm S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao cháu Phạm Lâm B, sinh ngày 16/10/2013 cho chị Bùi Thị Tố U trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng tiền cho con: Anh Phạm S và chị Bùi Thị Tố U không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Anh Phạm S phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị Tố U là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, chị U vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm S và chị Bùi Thị Tố U được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường VG, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình ngày 08 tháng 02 năm 2011. Hôn nhân giữa anh S và chị U là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, anh S cho rằng cuộc sống hôn nhân của anh chị hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, trong công việc làm ăn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, anh chị đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Từ khi nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh và chị U không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị U cho rằng mâu thuẫn giữa chị và anh S chỉ là mâu thuẫn nhỏ, chưa đến mức phải ly hôn, chị vẫn còn thương yêu anh S nên chị đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng chị được đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung, xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã hoà giải để hai bên về đoàn tụ nhưng anh S vẫn kiên quyết ly hôn, chị U cũng không có biện pháp gì khắc phục mâu thuẫn, cải thiện tình cảm vợ chồng, đến nay anh chị vẫn sống ly thân, vợ chồng không còn nghĩa vụ với nhau. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của anh S, chị U đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm S là phù hợp với Khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh S, chị U có hai con chung là Phạm Khánh P, sinh ngày 09/11/20xx và cháu Phạm Lâm B, sinh ngày 16/10/20xx. Hiện nay các cháu đang ở với chị U. Xét về điều kiện nuôi con, anh S và chị U đều có đủ điều kiện để về mọi mặt để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu. Do vậy, nên giao cho mỗi người nuôi một cháu là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của mỗi bên. Đối với cháu Phạm Lâm B, sinh ngày 16/10/20xx, cháu nhỏ tuổi hơn nên cần có sự chăm sóc của người mẹ, nguyện vọng của cháu cũng xin được ở với mẹ. Nên cần giao cháu B cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Phạm Khánh P cho anh S trược tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Anh S và chị U không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Phạm S tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị U xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Phạm S phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4, Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Phạm S về việc “Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với chị Bùi Thị Tố U.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Phạm S và chị Bùi Thị Tố U.

2. Về con chung: Giao cho anh Phạm S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Khánh P, sinh ngày 09/11/20xx, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đến khi cháu P đủ 18 tuổi.

Giao cho chị Bùi Thị Tố U trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Lâm B, sinh ngày 16/10/20xx, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Anh Phạm S và chị Bùi Thị Tố U có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung. Không ai được cản trở anh S, chị U thực hiện quyền này. Khi cần các bên có thể thay đổi việc nuôi con chung.

Về cấp dưỡng tiền cho con: Anh Phạm S và chị Bùi Thị Tố U không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Phạm S tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị U xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc anh Phạm S phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền trên được trừ vào số tiền anh S đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0001762 ngày 17 tháng 12 năm 2020.

Án xử công khai sơ thẩm anh Phạm S có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Bùi Thị Tố U vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

102
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 03/2021/HNGĐ-ST ngày 23/04/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:03/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về