Bản án 03/2021/HNGĐ-ST ngày 15/01/2021 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 03/2021/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2021 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 353/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2020 về việc xin ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị L, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn V Đông, xã T, huyện T1, tỉnh T2.

- Bị đơn: Anh Vũ Đức D, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn H, xã T3, huyện T1, tỉnh T2.

(Chị L và anh D đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2020 quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Lâm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Vũ Đức D kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T3, huyện T1, tỉnh T2 ngày 28/02/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn khoảng 3 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm về sinh hoạt và khác biệt quá lớn về cách sống nên không cùng suy nghĩ với nhau. Vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến đời sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã ly thân hơn 3 năm nay. Đến nay, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Vợ chồng anh chị không có con chung, hiện nay chị không mang thai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ con chung.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có nợ chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Vì lý do công việc nên chị L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Theo bản tự khai và đơn trình bày đề ngày 20/12/2020, bị đơn – Anh Vũ Đức D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh D xác nhận thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như chị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống khoảng 3 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm về sinh hoạt và khác biệt quá lớn về cách sống nên không cùng suy nghĩ với nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng anh đã ly thân hơn 3 năm nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L làm đơn ly hôn, anh cũng nhất trí và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho anh được ly hôn với chị L. Vì lý do gia đình, anh đã nhận được các văn bản của Tòa án tống đạt và cũng được chị L thông báo về việc ly hôn nhưng anh không thể đến Tòa án làm việc, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho anh được vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án và các phiên tòa xét xử sơ thẩm.

Về con chung: Anh chị không có con chung, hiện nay chị L cũng không mang thai con chung của anh và chị L do thời gian ly thân quá lâu nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có nợ chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Lâm Thị L được ly hôn Anh Vũ Đức D; Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T3, huyện T1, tỉnh T2, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú và xác định lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy là cơ quan giải quyết vụ án vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Lâm Thị L và Anh Vũ Đức D đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các bên đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T3, huyện T1, tỉnh T2 và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 09 ngày 28/02/2017. Tại thời điểm kết hôn, anh chị đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn,trong quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Anh chị đã ly thân từ ba năm nay, từ đó đến nay không quan tâm hỏi han nhau cũng không có biện pháp gì để hàn gắn hôn nhân. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T3 cũng xác định vợ chồng chị L và anh D mâu thuẫn và sống ly thân là có thật. Quá trình giải quyết vụ án, anh D cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị L xin ly hôn anh D cũng đồng ý. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh D đã ở mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L cương quyết xin ly hôn, cần xử cho chị L được ly hôn anh D là phù hợp với thực tế và quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Chị an và anh D đều xác định vợ chồng không có con chung, hiện nay chị L không mang thai con chung nào khác và cả hai đều không đề nghị Tòa án giải quyết về quan hệ con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị và anh D đều xác nhận không có nợ chung, không có tài sản chung và đều không yêu cầu giải quyết về tài sản, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.

[6] Về án phí: Chị phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị L và anh D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lâm Thị L được ly hôn Anh Vũ Đức D.

2. Về con chung: Không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lâm Thị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000đ chị L đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001909 ngày 17/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

108
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2021/HNGĐ-ST ngày 15/01/2021 về xin ly hôn

Số hiệu:03/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về