Bản án 03/2021/DSST ngày 01/02/2021 về tranh chấp tiền phường, họ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 03/2021/DSST NGÀY 01/02/2021 VỀ TRANH CHẤP TIỀN PHƯỜNG, HỌ

Trong ngày 01 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp về tiền phường, họ.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn U, sinh năm 1949; Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh B- Có mặt.

- Bị đơn:

1. Bà Ngô Thị T- Sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

2. Ông Ngô Văn T, sinh năm 1949 (chồng bà T); Địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị M, sinh năm 1962 (vợ ông U); Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 02 năm 2020 kèm theo giấy tờ, tài liệu liên quan và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Nguyên đơn (ông Hoàng Văn U) trình bày như sau:

Quan hệ giữa ông và gia đình bà T là quan hệ đồng nghiệp, ông là giáo viên dạy cùng trường bà T và ông T. Khoảng năm 2015 ông có tham gia chơi phường cùng bà T nhiều dây phường, cứ hết đợt này lại sang đợt khác, đợt chơi phường gần đây nhất là năm 2019 ông đã đóng phường cho bà T hàng tháng đầy đủ, khi đóng phường chủ yếu ông đóng trực tiếp cho bà T, bà T là người ký nhận, có 01 lần thì gửi ông T (chồng bà T) nhưng hai bên không làm giấy tờ gì. Ông đã đóng cho bà T, ông T dây phường sau cùng tổng số tiền là 582.200.000đ (Năm trăm tám mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng). Đến đầu tháng 8/2019 do ông đến lượt lấy phường nhưng bà T không thanh toán được tiền phường trả cho ông nên hai bên chốt nợ. Bà T viết giấy biên nhận xác nhận bà T còn nợ tiền phường của ông là 582.200.000đ (Năm trăm tám mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng) vào tháng 9/2019. Sau khi chốt nợ thì bà T và ông T trả cho ông được 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng), sau đó không thanh toán được tiền phường nên ông mới có đơn khởi kiện đến Tòa án. Nay ông vẫn giữ Nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Ngô Thị T và chồng là ông Ngô Văn T phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông số tiền phường mà bà T ông T còn nợ của ông, ông nhất trí trừ số tiền vợ chồng bà T đã trả cho ông là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng);

ông yêu cầu bà Ngô Thị T và chồng là ông Ngô Văn T phải có trách nhiệm trả ông số tiền phường còn nợ của ông là 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) tiền gốc, ông không yêu cầu bà T, ông T phải trả tiền lãi cho ông.

Lý do ông xác định số tiền phường này là nợ chung của ông T và bà T là vì thời gian hai bên chơi phường với nhau là để hai bên phát triển kinh tế gia đình, thời gian chơi phường dài, có lần ông đóng tiền phường qua ông T và ông T cũng trả cho ông tiền phường, gia đình bà T sống vẫn rất hạnh phúc, đồng thời bà T cùng một lúc nhận tiền đóng phường của nhiều người, số tiền chơi phường là rất lớn. Do đó, ông xác định bà T chơi phường với ông là để phục vụ kinh tế, lợi ích chung cho cả gia đình bà T, nên ông T phải có trách nhiệm trả tiền nợ phường cùng với bà T cho vợ chồng ông.

Bị đơn (bà Ngô Thị T) trình bày: Bà xác định còn nợ tiền phường của ông Hoàng Văn U gốc là 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) tiền gốc. Bà đồng ý trả vợ chồng ông U số tiền phường gốc là 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng xin được trả dần vì điều kiện kinh tế hiện nay khó khăn. Tuy nhiên, bà không đồng ý với ý kiến của ông U về việc khoản nợ tiền phường của ông U là nợ chung của bà và ông T vì bà chơi phường với ông U là chỉ có bà và ông U thỏa thuận, bà trực tiếp nhận tiền phường và ký nhận nợ với ông U, ông T không nhận tiền phường của ông U lần nào nên ông T không có liên quan gì. Mục đích chơi phường của bà với ông U và những người khác là để bà có thêm tiền thu nhập dùng chi tiêu thêm vào việc của bà và giúp mọi người chơi phường làm được việc của mọi người. Việc chi tiêu của bà cụ thể là chi tiêu vào may mặc quần áo và đi chùa. Lý do bà nợ nhiều tiền phường của mọi người là do những người đã lấy tiền phường của bà xong họ không đóng cho bà nên bà phải trả lãi phường cho những người chưa lấy dẫn đến không có khả năng trả tiền phường cho những người lấy sau và một số người chơi phường gửi liền 1 lần nhiều suất họ nên bà phải trả lãi nhiều cho những người này dẫn đến mất cân đối trong việc trả nợ tiền phường và một số người cần tiền đến vay nóng của bà, bà lấy tiền đóng phường cho vay để giúp họ nhưng họ lại không trả cho bà, bà chưa đòi được tiền của họ nên đã không có tiền trả tiền phường.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (bà Đào Thị M) trình bày: Đng ý với ý kiến của ông Hoàng Văn U- chồng bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông Ngô Văn T): đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, cũng không gửi văn bản, ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, vì vậy không có lời khai trong hồ sơ.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà T và ông T chưa chấp hành theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các Điều 471, 398, 400, 401, Điều 288 khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26; 35, 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn U.

Buộc bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả ông Hoàng Văn U và bà Đào Thị M số tiền phường nợ gốc là 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bà Ngô Thị T phải chịu 13.224.000đ (Mười ba triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm; Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Ngô Văn T đối với phần án phí ông Ngô Văn T phải chịu là 13.224.000đ (Mười ba triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng) do ông T là người cao tuổi. Ông Hoàng Văn U không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 11/02/2020 của ông Hoàng Văn U đây xác định là quan hệ tranh chấp tiền phường, họ quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Ngô Văn T đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự có tên nêu trên là phù hợp quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung tranh chấp:

Tại Tòa án ông Hoàng Văn U xuất trình giấy biên nhận tiền phường do bà Ngô Thị T viết và ký nhận, xác nhận là thỏa thuận về hợp đồng phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự.

[2].1. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn U yêu cầu bà T và ông T phải trả cho ông U, bà M số tiền 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) tiền phường còn nợ và lời phản bác của bà T xác định số tiền nhận đóng họ của ông U là chơi họ riêng, không liên quan gì đến ông T thấy rằng: Tại Tòa án cũng như tại phiên tòa ông U xác định sau khi hai bên thỏa thuận về việc ông U tham gia chơi phường do bà T làm chủ phường, ông U đã đóng cho bà T số tiền phường gốc đầy đủ theo thỏa thuận. Đến tháng 8/2019 bà T tU bố vỡ họ nên bà T chưa trả cho ông U được số tiền nào, nay ông U yêu cầu bà T, ông T phải trả 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) tiền phường gốc còn nợ. Bà Ngô Thị T cũng thừa nhận còn nợ của ông U số tiền phường gốc là 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng), đồng ý trả ông U. Như vậy, có căn cứ bà T còn nợ 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) tiền đóng phường của ông U. Về việc, bà T xác định đây là nợ riêng của bà T, không có liên quan gì đến ông T- chồng bà T, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù trong giấy giấy biên nhận nhận tiền đóng phường, họ chỉ có một mình bà T viết xác nhận nợ tiền họ của ông U, nhưng bà T là chủ họ đã nhận tiền đóng họ của nhiều người, thời gian bà T là chủ họ cũng rất dài, lượng tiền nhận đóng họ lớn. Số tiền này không thể chi tiêu hết cho cá nhân bà T như mua sắm đồ dùng cá nhân, may mặc quần áo, đi chùa như bà T trình bày được. Trong thời gian bà T làm chủ họ thì một số lần ông T cũng đã nhận của mọi người tiền đóng họ thay cho bà T; khi bà T tU bố vỡ họ thì bà T và ông T cùng tham gia đo đất, cũng hứa bán đất để trả nợ tiền phường, họ cho những người đóng phường nên có cơ sở xác định ông T biết rõ việc bà T làm chủ họ nhận tiền đóng họ của những người tham gia chơi họ cùng bà T. Mặt khác, quan hệ giữa bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn T là quan hệ vợ chồng, vì vậy thu nhập hợp pháp cũng như nợ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là thu nhập và nợ chung của vợ chồng. Đối với vợ chồng bà T, ông T là bị đơn của nhiều vụ án tranh chấp về phượng, họ do Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giải quyết sơ thẩm và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết phúc thẩm, thời gian đóng phường vẫn cùng với thời gian ông U tham gia chơi phường cùng bà T, ông T, cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều xác định số tiền nợ tiền phường là nợ chung của bà T và ông T, đến nay các bản án đều đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào Điều 288 của Bộ luật dân sự và Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình thì bà T và ông T phải chịu trách nhiệm liên đối đối với việc thanh toán tiền phường còn nợ nêu trên cho ông U là phù hợp. Do đó yêu cầu của ông Hoàng Văn U yêu cầu bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn T phải thanh toán trả tiền phường gốc còn nợ là 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng) cần được chấp nhận.

[4]. Về án phí: Yêu cầu của ông Hoàng Văn U được chấp nhận, vì vậy ông U không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định; Đối với ông Ngô Văn T là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm (phần ông T phải chịu trách nhiệm cùng bà T trả nợ) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 471, 398, 400, 401, Điều 288 khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26; 35, 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn U.

Buộc bà Ngô Thị T và ông Ngô Văn T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả ông Hoàng Văn U và bà Đào Thị M số tiền phường nợ gốc là 561.200.000đ (Năm trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bà Ngô Thị T phải chịu 13.224.000đ (Mười ba triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm; Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Ngô Văn T đối với phần án phí ông Ngô Văn T phải chịu là 13.224.000đ (Mười ba triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn đồng) do ông T là người cao tuổi. Ông Hoàng Văn U không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự Nguyênyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tU án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2021/DSST ngày 01/02/2021 về tranh chấp tiền phường, họ

Số hiệu:03/2021/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về