Bản án 03/2020/HSST ngày 08/01/2020 về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 03/2020/HSST NGÀY 08/01/2020 VỀ CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Ngày 08 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 187/2019/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2019/HSST/QĐ ngày 25 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Phan Văn S., tên gọi khác: S. dao lam, Đỏ, Nhỏ, sinh năm 1992 tại tỉnh B.; Nơi cư trú: Tổ 8, khu vực 8, phường N., TP. Q., tỉnh B.; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông Phạm Văn Đ. (chết) và bà Nguyễn Thị X. sinh năm 1967; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 22/11/2012, bị Tòa án nhân dân TP. Q. xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tai sản”, Ngày 30/5/2013, bị Tòa án nhân dân TP. Q. xử phạt 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, Ngày 30/10/2013, bị Tòa án nhân dân TP. Q. xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, 09 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, Ngày 14/8/2017, bị Tòa án nhân dân TP. Q. xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Quang V., sinh năm 1992; Trú tại: Số nhà 49 đường B., TP. Q., tỉnh B.; vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Huỳnh Tấn D., sinh năm 1985; trú tại: Số nhà 423/1 đường B., TP. Q., tỉnh B.; vắng mặt.

Anh Nguyễn Nguyễn Đức D., sinh năm 1981; trú tại: Tổ 1, khu vực 12, phường N., TP. Q., tỉnh B.; vắng mặt.

Chị Võ Thị Ngọc C., sinh năm: 1996; Trú tại: Tổ 1, khu vực 1, phường N., TP. Q., tỉnh B.; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Chị Trương Thị Ngọc Đ., sinh năm 1992; trú tại: Tổ 52, khu vực 10, phường H., TP. Q., tỉnh B.; vắng mặt.

Anh Nguyễn Tấn T., sinh năm 1992; trú tại: Tổ 23, khu vực 5, phường G., TP. Q., tỉnh B.; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2017 anh Nguyễn Quang V. với chị Trương Thị Ngọc Đ. có quan hệ tình cảm với nhau, đến tháng 3/2018 thì chia tay. Cho rằng trong thời gian quen nhau anh V. có vay và còn nợ số tiền 23.900.000 đồng nên chị Đ. nhiều lần đòi nhưng anh Vi. không trả. Sau đó, chị Đ. nhờ anh Nguyễn Xuân P. đòi tiền giúp, anh P. lại nhờ anh Nguyễn Tấn T. đòi tiền giúp chị Đ., anh T. đồng ý.

Khoảng 12 giờ ngày 19/12/2018, anh T rủ Nguyễn Đức D., Phan Văn S. đến quán café “Nhật Hoàng” gần Bệnh viện da liễu Quy Hòa uống cafe, sau đó anh T. gọi chị Đ. và Huỳnh Tấn D. đến. Tại quán, chị Đ. kể cho mọi người nghe việc anh V. nợ tiền, lúc này anh T. nhờ Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. và Phan Văn S. đi cùng chị Đ. đến gặp anhV. để đòi tiền, tất cả đồng ý. Huỳnh Tấn D. điều khiển xe môtô biển kiểm soát (BKS) 77L1-005.49 chở Nguyễn Đức D., Phan Văn S. điều khiển xe môtô BKS 77L1-390.68 chở chị Đ. đến tiệm cắt tóc ở số nhà 49 đường B., TP. Q. tìm anh V. Khi đến thấy anh V. nên cả 04 người đi vào tiệm gặp nói chuyện việc nợ tiền, lúc này trong tiệm có em ruột anh V. là chị Nguyễn Thị Thu S. và bạn gái anh V. là chị Võ Thị Ngọc C.. Huỳnh Tấn D.

ngồi đối diện anh V. nói “Vi., em nợ Đ. tiền gì vậy, Đ. nhờ anh em đến đòi”. Do anh V. không nhận nợ nên chị Đ. mở tin nhắn và đoạn ghi âm trong điện thoại cho mọi người nghe để chứng minh việc vay tiền nhưng anh V. không thừa nhận tin nhắn và giọng nói trong đoạn ghi âm là của anh nên Huỳnh Tấn D. nói “Anh nghe giống giọng em mà, thôi coi trả tiền cho Đ. đi”, anh V. vẫn tiếp tục khẳng định giọng trong đoạn ghi âm không phải của anh V.. Bực tức vì anh V. không chịu nhận nợ và trả tiền nên Huỳnh Tấn D. đạp vào người làm anh V. ngã xuống nền nhà, rồi cùng Nguyễn Đức D. và Phan Văn S. xông vào dùng tay chân, cầm ghế nhựa đánh vào người anh V. và làm gãy, bể 04 ghế nhựa hiệu Đại Đồng Tiến loại ghế cao, màu đỏ, kích thước 335x335x450 mm không có lưng dựa. Lúc này, chị S. và chị C. đến can ngăn. Chị C. cầm điện thoại Iphone 7 màu hồng định gọi báo Công an thì bị Nguyễn Đức D. giật lấy vứt xuống nền nhà làm bể màn hình, anh V. bò vào gầm cầu thang trốn thì bị Huỳnh Tấn D. lấy cái kéo trong tiệm đâm vào đầu, hông trái. Sau đó, nhóm của D. dừng lại không đánh nữa và ra về. Trước khi về Huỳnh Tấn D. nói với anh V. “Cho mầy thời gian 03 ngày để trả nợ, nếu không thì đừng có làm tóc nữa”. Anh V. bị thương tích được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B. điều trị đến ngày 21/12/2018 thì xuất viện. Ngày 28/12/2019, Nguyễn Quang V. có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu giám định thương tích.

Ngày 04/3/2019, Trung tâm pháp y tỉnh B. có văn bản số: 44/2019/PY- TgT kết luận thương tích của Nguyễn Quang V. như sau: Chấn thương gây xây xát da vùng chẩm, đau đầu không yếu liệt, không tổn thương sọ và nội sọ đã điều trị. Hiện vùng chẩm không có dấu vết; Chấn thương gây xây xát vùng cằm đã điều trị. Hiện vùng cằm không có dấu vết và di chứng; Chấn thương gây xây xát vùng cẳng tay phải đã điều trị. Hiện để lại sẹo mờ; Đoạn mu bàn tay kích thước (0,5x0,5)cm; Đoạn liên kẽ ngón II-III kích thước (1,5x0,3)cm; Chấn thương gây tức ngực. Hiện vùng ngực không có dấu vết và di chứng; Chấn thương gây xây xát da vùng hông trái đã điều trị. Hiện vùng hông trái có hai diện rối loạn sắc tố da song song kích thước (8x0,5)cm và (4x0,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%.

Ngày 19/6/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Q. kết luận: 04 ghế nhựa hiệu Đại Đồng Tiến (màu đỏ, loại ghế cao, kích thước 335x 335x 450 mm không có lưng dựa), trị giá 240.000 đồng; 01 màn hình điện thoại Iphone 7 loại 32Gb, vỏ màu hồng, độ phân giải 750 x 1334 pixel, kích thước 4,7 inch, trị giá 1.200.000 đồng.

Cơ quan điều tra thu giữ gồm 01 điện thoại Iphone 7 loại 32Gb, vỏ màu hồng của chị Võ Thị Ngọc C., 03 ghế nhựa hiệu Đại Đồng Tiến (màu đỏ, loại cao, không có lưng dựa), 01 con dao Thái Lan (cán màu vàng, dài 20cm), 01 cái kéo (dài 20cm, tay cầm bằng nhựa màu đỏ xám). Bị cáo S., Nguyễn Đức D., Huỳnh Tấn D. đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho anh V. và chị C.. Anh V., chị C. không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị C. yêu cầu nhận lại điện thoại Iphone 7 loại 32Gb, vỏ màu hồng hiện đang bị thu giữ.

Bản cáo trạng số 114/CT - VKSQN ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Q. truy tố bị cáo Phan Văn S. về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS); truy tố các bị cáo Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS.

Ngày 30/9/2019, Nguyễn Quang V. có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 01/10/2019 Tòa án nhân dân TP. Q. ra Quyết định số 02/2019/QĐ đình chỉ xét xử đối với các bị cáo Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS. Chỉ ra Quyết định xét xử đối với bị cáo Phan Văn S.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 15/11/2019, căn cứ kết quả xét hỏi tại phiên tòa, xét thấy thiếu chứng cứ để chứng minh liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự hay phải chịu trách nhiệm hình sự của Trương Thị Ngọc Đ. và Nguyễn Tấn T. không thể bổ sung được tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Tại Công văn số 22/CV –VKSQN ngày 20/12/2019, Viện Kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn giữ nguyên Cáo trạng số 114/CT - VKSQN ngày 09 tháng 8 năm 2019. Tai phiên tòa, Kiểm sát viên bổ sung Cáo trạng số 114/CT - VKSQN ngày 09 tháng 8 năm 2019, rút truy tố đối với Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS vì bị hại đã rút yêu cầu, Tòa án đã đình chỉ xét xử đối với 02 đối tượng này. Giữ nguyên các nội dung khác của Cáo trạng. Căn cứ quy định tại Điều 298 BLTTHS về giới hạn của việc xét xử, Tòa án chỉ xét xử bị cáo Phan Văn S. theo tội danh Viện kiểm sát đã truy tố, Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, không xem xét hành vi của Trương Thị Ngọc Đ. và Nguyễn Tấn T. trong vụ án này.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Phan Văn S. có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã “Tái phạm nguy hiểm”, tiếp tục tham gia cùng với Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. dùng tay, chân, kéo là hung khí nguy hiểm đánh, đâm anh Nguyễn Quang V. khi đi cùng chị Trương Thị Ngọc Đ. đến gặp anh V. tại hiệu cắt tóc của anh Nguyễn Quang V. để đòi nợ giúp cho chị Đ. làm anh V. bị thương nhiều nơi trên cơ thể, tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên là 04%, anh V. có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm”, vì vậy, Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo. Bị cáo không mâu thuẫn gì với anh V. nhưng lại đồng ý đi đòi nợ giúp, khi anh Vinh không nhận nợ, bị cáo tham gia đánh anh V., hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, bị cáo có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134, điểm d khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Áp dụng Điều 584, Điều 587; Điều 590 BLDS công nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại. Áp dụng Điều 47; Điều 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS, trả lại cho chị C. chiếc điện thoại Iphone đang thu giữ; tịch thu, tiêu hủy các vật chứng còn lại.

Bị cáo không tự bào chữa.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Phan Văn S. có sức khỏe, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên biết rất rõ sức khỏe của con người được pháp luật bảo hộ, mọi hành vi xâm hại đều bị xử lý nghiêm minh. Bị cáo đã 04 lần bị kết án, chưa được xóa án tích, nhưng vẫn nhận lời anh Nguyễn Tấn T., đi cùng Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. đến nơi làm việc của anh Nguyễn Quang V., gặp anh Vinh đòi nợ giúp cho chị Trương Thị Ngọc Đ.. Khi anh V. không nhận nợ, nhìn thấy Nguyễn Tấn D. dùng chân đạp vào người anh V. làm anh V. ngã, bị cáo đã cùng Huỳnh Tấn D. dùng chân, tay, ghế nhựa đánh anh V.. Mặc dù chị Nguyễn Thị Thu S. và chị Võ Thị Ngọc C. đã can ngăn, anh V. đã chui vào gầm cầu thang trốn, nhưng Huỳnh Tấn D. vẫn dùng cái kéo của anh V. đâm trúng đầu, hông anh V. làm anh V. bị thương nên bị cáo và Nguyễn Tấn D. phải chịu chung hậu quả do cả nhóm gây ra. Theo kết quả giám định pháp y số 44/2019/PY-TgT ngày 04/3/2019 thì anh Nguyễn Quang V. bị chấn thương gây xây xát da vùng chẩm; Chấn thương gây xây xát vùng cằm; Chấn thương gây xây xát vùng cẳng tay phải; Chấn thương gây tức ngực; Chấn thương gây xây xát da vùng hông trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây tại thời điểm giám định là 04%. Bị cáo đã cùng Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. dùng cây kéo là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh V., làm anh bị tổn thương cơ thể do thương tích gây ra 04% nên bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã 04 lần bị kết án chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội nên đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm”, do đó Viện kiểm sát nhân dân TP. Q. truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, khi bị hại V. rút yêu cầu khởi tố vụ án, Tòa án đã đình chỉ xét xử đối với các bị cáo Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. bị truy tố theo khoản 1 Điều 134 BLHS nên tại phiên tòa Kiểm sát viên rút truy tố đối với Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. được chấp nhận.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm khắc. Bị cáo không mâu thuẫn, không quen biết với anh V. nhưng vẫn tham gia đi đòi nợ giúp, khi đòi không được thì đánh, đã phạm vào tình tiết tăng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS, bị cáo có nhân thân xấu nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã cùng với chị Đ., anh Huỳnh Tấn D. bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tài sản cho anh V.theo yêu cầu của anh và được anh V. xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 BLHS xử bị cáo với mức án dưới khung hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo sớm tái hòa nhập với cộng đồng.

Bị cáo cùng với Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. đập phá làm hư hỏng tài sản của anh V., chị C., nhưng theo kết quả định giá ngày 19/6/2019 của Hội đồng đinh giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Q. thì tổng thiệt hại tài sản chỉ có 1.440.000 đồng nên bị cáo, Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. không phạm tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”.

[4] Về bồi thường thiệt hại:

Bị cáo cùng với Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. gây thương tích cho anh V. và đập phá tài sản của anh nên bị cáo, Huỳnh Tấn D., Nguyễn Đức D. phải chịu chung hậu quả do cả nhóm gây ra và phải liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tài sản bị xâm hại cho anh V. Bị cáo, Huỳnh Tấn D., Trương Thị Ngọc Đ. đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và đã bồi thường xong cho anh V.. Anh V. không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.

Nguyễn Đức D. đập điện thoại di động Iphone 7 của chị C., thiệt hại 1.200.000 đồng nhưng chị C.tự nguyện không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.

[5] Xử lý vật chứng:

Xét điện thoại Iphone 7 bị bể màu hồng, 32Gb là của chị C., chị C. xin nhận lại nên trả lại cho chị C.. 03 ghế nhựa, con dao, cái kéo là của anh V. nhưng anh Vinh không yêu cầu nhận lại, các vật dụng này không có giá trị kinh tế nên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí:

Bị cáo bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn S. phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Văn S. 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS Trả lại cho chị Võ Thị Ngọc C. chiếc điện thoại Iphone 7 bị bể, màu hồng, 32Gb, không kiểm tra chất lượng bên trong;

Tịch thu, tiêu hủy: 03 ghế nhựa màu đỏ loại cao không có lưng tựa hiệu Đại Đồng Tiến; 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, dài 20cm; 01 cái kéo dài 20cm, tay cầm bằng nhựa màu đỏ xám.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/HSST ngày 08/01/2020 về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Số hiệu:03/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Qui Nhơn - Bình Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về