Bản án 03/2020/DS-ST ngày 31/01/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 03/2020/DS-ST NGÀY 31/01/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2019 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐST-DS ngày 13/01/2020 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ánh Đào H, sinh năm: 1979. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. có mặt

2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Diễm T, sinh năm: 1974. Nơi đăng ký thường trú: ấp L, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Bà và bà T có quen biết do bà T thuê mặt bằng mua bán ở chợ Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh rồi sau đó thuê nhà mở cửa hàng bán quần áo gần nhà bà. Quá trình quen biết qua lại, bà T có nhiều lần vay tiền và còn nợ bà. Cụ thể như sau:

- Chốt lại các khoản vay trước đó, ngày 03/4/2019 âm lịch (AL) là ngày bà T ngưng trả góp các khoản nợ là còn nợ 32.400.000 đồng, bà ghi: “ngưng” tại ngày 3/4 vào giấy theo dõi nợ không ghi ngày tháng. Đến ngày 4/4/2019 (Al) bà T và bà có chốt nợ 34.200.000 đồng, góp trong vòng 57 ngày, mỗi ngày 600.000 đồng. Bà T đóng được 6 ngày là 3.600.000 đồng thì không trả nữa, trừ vào nợ gốc bà T còn nợ 30.600.000 đồng.

- Ngày 10/4/2019 (AL) bà T vay 02 lần: 40.000.000 đồng và 10.000.000 đồng hẹn ngày 19/4/2019 trả, cả 02 lần đều có ký tên vào sổ của bà. Đến nay bà T chưa trả nên với các giấy nợ ngày 10/4/2019 (AL) thì bà T còn nợ bà 50.000.000 đồng.

- Ngày 11/4/2019 (Al) bà T tiếp tục vay 10.000.000 đồng hẹn ngày 20/4/2019 (AL) sẽ trả và viết tiếp giấy nợ cho bà.

Tổng cộng bà T còn nợ bà số tiền 90.600.000 đồng. Bà đã nhiều lần liên lạc với bà T nhưng bà T chỉ hứa miệng rồi đến ngày 15/5/2019 bà không liên lạc với bà T được nữa nên bà khởi kiện. Chứng cứ khởi kiện là các giấy nợ có chữ viết và chữ ký “Trang” như nêu trên.

Tại phiên tòa, bà H trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T trả số nợ vay 90.600.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Bị đơn- bà Huỳnh Thị Diễm T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án và được triệu tập đến tham gia phiên hòa giải hợp lệ nhiều lần nhưng không đến và cũng không gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà H và việc giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt đối với bà T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ các Điều 463, 466, 467 của Bộ Luật Dân sự; Điều 161, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; NQ 326 của UBTVQH, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ánh Đào H. Buộc bà Huỳnh Thị Diễm T có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Ánh Đào H số tiền 90.600.000 đồng.

- Về án phí và chi phí dân sự sơ thẩm: bà Huỳnh Thị Diễm T phải chịu án phí, chi phí giám định theo quy định. Bà Lê Thị Ánh Đào H không phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Bà H khởi kiện yêu cầu bà T có đăng ký thường trú tại ấp L, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh trả lại số tiền vay 90.600.000 đồng, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự, do đó căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Bến Cầu.

[2] Về sự có mặt của các đương sự: Trong quá trình giải quyết, bà Huỳnh Thị Diễm T đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt lần 2 không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với bà T thì thấy rằng:

Bà H trình bày bà và bà T có quen biết do bà T đến sinh sống mà thuê nhà mở cửa hàng kinh doanh quần áo tại ấp Bình Hòa, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Quá trình quen biết thì bà T vay tiền của bà nhiều lần, vay không có lãi, có thỏa thuận thời hạn trả. Đến ngày 11/04/2019 AL thì bà T nợ bà tổng cộng 90.600.000 đồng, khi đến hạn bà T không trả cho bà và đến khoảng 15/5/2019 bà H không liên lạc được với bà T nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án, kết quả xác minh thông tin cư trú của Tòa án đối với bà T thể hiện: Bà T có đăng ký thường trú tại ấp L, xã Long Chữ, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh từ năm 2011, đến năm 2013 thì bà T chuyển về sống tại ấp Bình Hòa, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nhưng không có đăng ký tạm trú, đến khoảng ngày 15/5/2019 thì bà T bỏ đi khỏi địa phương. Tòa án đã tiến hành các thủ tục cấp tống đạt và thông báo theo quy định cho bà T nhưng bà T không đến Tòa theo giấy triệu tập cũng không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Đối với trình bày của bà H về hợp đồng vay tài sản giữa bà với bà T thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Bà H cung cấp được giấy có nội dung thể hiện bà T có vay tiền của bà nhiều lần chốt đến ngày 03/4/2019 (AL) còn nợ 30.600.000 đồng, 02 giấy nợ ngày 10/4/2019 (AL) tổng số tiền 50.000.000 đồng, giấy ghi ngày 11/4/2019 (AL) số nợ 10.000.000 đồng, trên giấy có chữ ký và chữ viết của bà T. Tại kết luận giám định số 1660/KL-KTHS ngày 14/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận “Chữ ký, chữ viết được đóng khung bằng mực đỏ trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A01 đến A04) với chữ ký, chữ viết đứng tên Huỳnh Thị Diễm T trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M01 đến M09) là do cùng một người ký và viết ra”, do đó đủ cơ sở xác định chứng cứ khởi kiện là giấy nợ do bà H cung cấp là đúng sự thật, đủ cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa bà H với bà T là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hình thức vay có thời hạn, không có lãi, các bên tham gia tự nguyện không trái pháp luật nên có hiệu lực pháp luật, trong quá trình thực hiện bà T vi phạm nghĩa vụ trả tiền, nên bà H khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền vay tổng cộng 90.600.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự. Ghi nhận bà H không yêu cầu bà T trả lãi chậm trả.

[4] Về chi phí giám định: 2.040.000 đồng bà T phải chịu. Bà H đã nộp tạm ứng nên bà T có nghĩa vụ trả lại cho bà H.

[5] Về án phí sơ thẩm: Bà T phải chịu 4.530.000 đồng. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà H.

[6] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463 và 466 của Bộ Luật Dân sự; Điều 161, Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng vay tài sản của bà Lê Thị Ánh Đào H đối với bà Huỳnh Thị Diễm T.

Buộc bà Huỳnh Thị Diễm T phải trả cho bà Lê Thị Ánh Đào H số tiền 90.600.000 (chín mươi triệu sáu trăm nghìn) đồng.

2. Về chi phí giám định: Bà Huỳnh Thị Diễm T phải chịu 2.040.000 (hai triệu không trăm bốn mươi nghìn) đồng, bà T có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 2.040.000 (hai triệu không trăm bốn mươi nghìn) đồng cho bà Lê Thị Ánh Đào H.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Diễm T phải chịu 4.530.000 đồng (bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn) đồng.

Hoàn trả cho bà Lê Thị Ánh Đào H số tiền 2.265.000 (hai triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0021990 ngày 24/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Lê Thị Ánh Đào H có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo thủ tục phúc thẩm. Bà Huỳnh Thị Diễm T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2020/DS-ST ngày 31/01/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:03/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:31/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về