Bản án 03/2019/HS-PT ngày 11/01/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 03/2019/HS-PT NGÀY 11/01/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 175/2018/TLPT-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Lê Văn G. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn G đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2018/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn G (tên gọi khác Méo), sinh năm 1990, tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp H, xã I, huyện K, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên Hồ Thị Ngọc T, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có một con tên Lê Hồ Như Y, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại, 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/01/2018, Lê Văn G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh mượn của một người bạn đến phòng trọ của ông S thuộc ấp 5, xã V, thị xã T, tỉnh Bình Dương để gặp La Thị C (sinh năm 1991, thường trú: Ấp 10, xã M, huyện N, tỉnh Bạc Liêu). Tại đây, Lê Văn G gặp ông Huỳnh R điều khiển xe mô tô biển số 84G1-116.18, nhãn hiệu Halong, màu đen đến chơi. Do hết tiền nên La Thị C xin ông Huỳnh R 15.000 đồng để đi ăn hủ tiếu và nói với Lê Văn G sự việc trên. Lúc này, Lê Văn G nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của ông Huỳnh R nên bảo La Thị C đến hỏi mượn xe của ông Huỳnh R để đi ăn hủ tiếu rồi mang xe đi cầm lấy tiền tiêu xài. La Thị C nghe theo lời Lê Văn G, hỏi mượn được xe của ông Huỳnh R chạy ra khỏi khu nhà trọ đợi Lê Văn G. Sau đó, Lê Văn G dẫn La Thị C đến tiệm cầm đồ D (thuộc ấp P, xã Q, thị xã T, tỉnh Bình Dương) do ông Trịnh Văn D làm chủ cầm xe của ông Huỳnh R được số tiền 3.000.000 đồng. Lê Văn G giữ tiền và chở La Thị C đi ăn hủ tiếu. Sau đó, Lê Văn G trả xe mô tô đã mượn cho bạn và cùng La Thị C đến quán cà phê thuộc ấp 4, xã V, thị xã T, tỉnh Bình Dương uống nước. Đến tối, ông Huỳnh R không thấy La Thị C trả xe nên đến công an trình báo. Sau khi tiếp nhận sự việc, Công an xã V tuần tra và phát hiện Lê Văn G và La Thị C nên đưa về trụ sở làm việc. Qua làm việc, Lê Văn G và La Thị C khai nhận hành vi phạm tội.

Theo Kết luận định giá tài sản số 31/KLTS-TTHS ngày 07/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản xe mô tô nhãn hiệu Halong, màu đen, biển số 84G1-116.18 đã qua sử dụng tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị 4.000.000 đồng.

Đối với La Thị C đã bỏ trốn và đang bị truy nã khi nào bắt được xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2018/HS-ST ngày 24/9/2018 của Toà án nhân dân thị xã T đã quyết định:

Áp dụng khoản1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Lê Văn G 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định.

Ngày 02/10/2018, bị cáo Lê Văn G có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời hạn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn G đúng theo thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xem xét theo thủ tục phúc thẩm là đúng theo thẩm quyền và quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm và không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức hình phạt 04 (bốn) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chăm sóc cha mẹ già và nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 21/01/2018, tại nhà trọ của ông S thuộc ấp 5, xã V, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Văn G và La Thị C đã bàn bạc, thống nhất chiếm đoạt xe máy nhãn hiệu Halong, màu đen, biển số 84G1-116.18 bằng thủ đoạn gian dối mượn xe của ông Huỳnh R, sau đó Lê Văn G và La Thị C mang xe máy nói trên đi cầm nhằm chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo Lê Văn G là người giữ số tiền này. Tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Theo Kết luận định giá tài sản số 31/KLTS-TTHS ngày 07/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản xe mô tô nhãn hiệu Halong, màu đen, biển số 84G1-116.18 đã qua sử dụng tại thời điểm chiếm đoạt có giá trị 4.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm được đã được thu hồi trả cho bị hại và bị hại có yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại Nguyễn Văn T là liệt sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để xử phạt bị cáo với mức hình phạt 04 (bốn) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, tuy nhiên, bị cáo là người chủ mưu trong việc chiếm đoạt tài sản của bị hại do đó bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

[3] Do đó, Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2018/HS-ST ngày 24/9/2018 của Toà án nhân dân thị xã T.

[4] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn G phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn G; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2018/HS-ST ngày 24/9/2018 của Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt:

Bị cáo Lê Văn G 04 (bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lê Văn G phải nộp 200.000 đồng.

3/ Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


106
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về