Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 03/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2018 VỀ TRÁNH CHẤP YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 15 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2017/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2017 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 66/2017/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc B, sinh năm 1983; cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Đoàn Tấn T, sinh năm 1974; cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 10 năm 2017 của chị Phạm Ngọc B và quá trình tố tụng tại Tòa án chị B trình bày:

Chị và anh Đoàn Tấn T tự nguyện kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, thường hay cự cải, xúc phạm lẫn nhau nên tự sống riêng từ năm 2014 đến nay. Xét thấy, không đảm bảo hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung có một người tên Đoàn Tấn P, sinh ngày 20/6/2007 hiện đang ở cùng anh T, sau khi ly hôn chị B đồng ý giao con cho anh T nuôi theo nguyện vọng của con.

Về tài sản chị không yêu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị vắng mặt ngày 24 tháng 11 năm 2017 của anh Đoàn Tấn T trình bày: Anh chấp nhận ly hôn cùng chị Phạm Ngọc B, anh xin được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng, ngoài ra anh không yêu cầu gì thêm.

Đối với Đoàn Tấn P là con chung của chị B và anh T xác định có nguyện vọng ở cùng anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Phạm Ngọc B được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Anh Đoàn Tấn T có đơn đề nghị vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

[3] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Ngọc B và anh Đoàn Tấn T được xác lập vào năm 2006, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết. Quá trình chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng, thường không tin tưởng lẫn nhau. Hiện tại mỗi người một nơi, không ai quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau trong những lúc khó khăn, thời gian ngày càng kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa diệu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hơn nữa phía chị B và anh T đều thống nhất ly hôn nên chấp nhận yêu cầu của chị B được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Thời gian chung sống, chị B và anh T có một người con hiện đang ở cùng anh T vẫn được đi học và phát triển bình thường, sau khi ly hôn phía chị B đồng ý giao con cho anh T nuôi theo nguyện vọng của con. Xét thấy, các đương sự đã thỏa thuận việc nuôi con và sự thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho anh T nuôi theo nguyện vọng của con, phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Chị B có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết trong cùng vụ án.

[6] Về án phí: Chị Phạm Ngọc B là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ phần tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị B đã nộp.

[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điêu 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử vắng mặt anh Đoàn Tấn T.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phạm Ngọc B được ly hôn với anh Đoàn Tấn T.

Về nuôi con chung: Anh Đoàn Tấn T được quyền nuôi con tên Đoàn Tấn P, sinh ngày 20/6/2007 đang ở cùng anh.

Chị B có quyền thăm nôm, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không đươc lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh T.

Về chia tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Phạm Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị B đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0013907 ngày 16/10/2017 được khấu trừ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


165
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 15/01/2018 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

Số hiệu:03/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về