Bản án 03/2017/KDTM-ST ngày 19/07/2017 về tranh chấp kinh doanh thương mại

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI                        

BẢN ÁN 03/ 2017/KDTM-ST NGÀY 19/ 07/2017 VỀ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Ngày 19/ 7/ 2017, tại trụ sở TAND huyện Kbang, Gia Lai. TAND huyện Kbang  xét  xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  kinh  doanh  thương  mại  thụ  lý  số 02/2017/TLST-KDTM ngày 13/ 3/ 2017. Về việc: “Tranh chấp về kinh doanh thương mại”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2017/QĐXXST-KDTM ngày 12/ 06/ 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2017/QĐST- KDTM ngày 29/6/2017. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội.

Địa chỉ: Tòa nhà CC5, bán đảo Linh Đàm, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Thu H - Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, tỉnh Gia Lai.

Địa chỉ: Số 265 Q, thị tr n K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1977;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đồng Thị Huyền, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ: Thôn G, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Bà H có mặt tại phiên tòa;

Ông H và bà H lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngƣời diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội bà Đinh Thị Thu H trình bày:

Vào ngày 14/ 12/ 2015, hộ gia đình ông Nguyễn Việt H và bà Đồng Thị H đã vay vốn tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, tỉnh Gia Lai, với số tiền là nợ gốc là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), theo Số vay vốn có mã KH 081049; mục đích sử dụng tiền vay để trồng cà phê; Thời hạn vay là 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng /lần, lãi suất cho vay là 0,66 %/tháng; lãi suất quá hạn được tính bằng 130% lãi su t trong hạn; hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay tín ch p. Theo thỏa thuận của hộ gia đình ông H với Ngân hàng tại thời đi m vay thì ông Nguyễn Việt H là người vay và vợ là bà Đồng Thị H là người thừa kế món vay.

Theo thỏa thuận trên hồ sơ vay vốn ký kết tại Ngân hàng thì hàng tháng ông H-bà H phải trả lãi nhưng từ ngày 27/5/2016 cho đến nay ông H-bà H chưa trả lãi cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở gia đình ông, bà trả nợ nên ông, bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi theo cam kết đã thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H - bà H phải có trách nhiệm trả nợ toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng.

Tính đến ngày 29/ 11/ 2016, ông Nguyễn Việt H và bà Đồng Thị H còn nợ Ngân hàng số tiền 31.201.200 đồng với các khoản như sau:

- Nợ gốc là: 30.000.000 đồng;

- Nợ lãi trong hạn từ ngày 27/5/2016 đến ngày 29/11/2016 là: 1.201.200 đồng;

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Việt H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị H, ngoài việc phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ là 31.201.200 đồng thì ông H - bà H còn phải trả tiếp số tiền nợ lãi trong hạn phát sinh từ ngày 30/ 11/ 2016 đến ngày 19/ 07/2017 (229 ngày) là 1.511.400 đồng.

Như vậy, tổng cộng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Việt H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị H phải trả cho Ngân hàng CSXH thông qua Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, tỉnh Gia Lai tổng số tiền là 32.712.600 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 30.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn đến ngày 19/ 7/ 2017 là 2.712.600 đồng.

Ngoài ra nguyên đơn còn yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Bị đơn ông Nguyễn Việt H và bà Đồng Thị H: Sau khi vụ án được Tòa án thụ lý, TAND huyện K đã triệu tập ông H - bà H đến Tòa làm việc để nhận Thông báo thụ lý vụ án, làm Bản tự khai trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tham gia các phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cua và hoà giải do Toà án tiến hành nhưng ông H - bà H  không hợp tác, trốn tránh vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định. Do vụ án đã hai lần không tiến hành hoà giải được, vì bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Toà án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại hai phiên toà, mở vào ngày 29/6/2017 và ngày 19/7/2017, mặc dù đã được Toà án đã niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Gi y triệu tập đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ đến ông H - bà H nhưng ông, bà đã vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn đã giao nộp, gồm:  01 Quyết định về  việc  ủy  quyền  tham  gia  tố  tụng  và  thi  hành  án  số  1792/QĐ- NHCS  ngày 09/6/2015, 01 Số vay vốn mang tên người vay là ông Nguyễn Việt H số 081049, 01 Sưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, tỉnh Gia Lai đối với ông Nguyễn Việt H, 01 Gi y đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông Nguyễn Việt H; 01 Danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội chương trình cho vay hộ cận nghèo (đều sao y bản chính); 01 Văn bản số 55/NHCS-TD ngày 17/3/2017 về việc cung cấp thông tin.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa cũng căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Việc vay vốn giữa ông Nguyễn Việt H với Ngân hàng được thể hiện trong số vay vốn có mã khách hàng KH 081049 và lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ là sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành. Vì vậy, việc hộ gia đình ông H- bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong Hợp đồng, buộc Ngân hàng khởi kiện đòi nợ là có cơ sở và thuộc thẩm quyền của TAND huyện K, Gia Lai.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là số vay vốn có mã khách hàng KH 081049 ghi họ và tên người vay là ông Nguyễn Việt H, họ tên người thừa kế khoản vay là bà Dồng Thị H (quan hệ với người vay là vợ chồng) và số lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ với hình thức bảo đảm tiền vay là cho vay là tín chấp, thời hạn vay là 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/ lần/ 10.000.000 đồng hộ ông H phải trả lãi đối với khoản vay theo phương thức hàng tháng; tất cả các điều kiện trên của bên cho vay và bên vay đã được ông H thừa nhận bằng việc ký và nhận số tiền của khoản vay là 30.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu bổ sung số tiền nợ lãi quá hạn của khoản vay từ ngày 30/11 đến ngày 19/7/2017 là 30.000.000 đồng x 0,66 %/tháng= 1.511.400 đồng, HĐXX xét thấy có đủ cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận đối với yêu cầu trên.

[3] Sau khi vay tiền cho đến nay ông H –bà H đã sử dụng vốn vay không hiệu quả, đã không trả được nợ gốc và lãi theo cam kết mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở ông, bà trả nợ nên ông, bà đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Ông H –bà H luôn vắng mặt, trốn tránh trong các lần Tòa án triệu tập làm việc đã thể hiện việc ông, bà không ch p hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông H –bà H đã tự chối bỏ quyền tham gia tố tụng của mình, đồng thời mặc nhiên thể hiện việc vay nợ mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ thì ông H –bà H có nghĩa vụ phải trả nợ cho Ngân hàng.

Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Việt H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị H phải có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn t ng số tiền tính đến ngày 19/ 7/ 2017 là  32.712.600 đồng.Trong đó: Nợ gốc là 30.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 2.712.600 đồng là có căn cứ và đúng pháp luật nên được HĐXX cần chấp nhận toàn bộ.

Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông H-bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật số tiền là 3.000.000 đồng.

Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay đối với đối tượng chính sách (thời điểm vay hộ gia đình ông H-bà H thuộc diện hộ cận nghèo) nên không phải nộp tiền tạmứng án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 471, 474 và 478 của Bộ luật dân sự 2005;

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 91, 93, 94, 95, 96, 108, khoản 3 Điều 144; khoản 01 khoản 05 Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội. Buộc bị đơn anh Nguyễn Việt H và người có quyền có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đồng Thị H phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua Chi nhánh Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện K, Gia Lai số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng theo S   vay vốn có mã KH 081049 là 32.712.600 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 30.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 2.712.600 đồng (tính đến ngày 19/ 7/ 2017)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

-Về án phí:

*Buộc ông Nguyễn Việt H và bà Đồng Thị H phải chịu án phí KDTM sơ thẩm là 3.000.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự (LTHADS) thì người được THADS, người phải THADS có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo các điều 6, 7 và 9 LTHADS; thời hiệu THA được thực hiện theo quy định tại điều 30 LTHADS.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn và quyền kháng cáo nêu trên của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.


265
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2017/KDTM-ST ngày 19/07/2017 về tranh chấp kinh doanh thương mại

Số hiệu:03/2017/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện KBang - Gia Lai
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:19/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về