Bản án 03/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 03/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN CHUNG 

Ngày 19 tháng  9  năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06 /2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2017, về việc “Ly hôn, nuôi con chung, tranh chấp tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2017/QĐXX-ST ngày 01 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Điền Loan Y, sinh năm 1969

Địa chỉ: Số nhà…., Tổ 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, “có mặt”

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1964

Địa chỉ: Số nhà …, Tổ 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ngày 07 tháng 3 năm 2017 và các bản khai tại Tòa án, chị Điền Loan Y trình bày: Chị và anh Hoàng Văn V qua thời gian tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình có tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Giang vào ngày 09 tháng 01 năm 2002. Trong qúa trình chung sống, anh V không giúp đỡ và chia sẻ với chị mọi công việc trong gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ, con; nên giữa chị và anh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Mặt khác, anh Vương không có việc làm và thu nhập ổn định, một mình chị phải tự lo mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình, trả nợ các khoản tiền vay ngân hàng và chăm sóc con, khiến cho tinh thần luôn mệt mỏi, kinh tế gia đình ngày càng sa sút, nợ nần ngày càng nhiều. Từ đó làm cho cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, làm ảnh hưởng dến tình cảm và tâm lý của vợ, con. Nay chị Y nhận thấy cuộc sống chung giữa chị và anh V không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.

- Về con chung: Chị và anh V có 01 ( một) con chung là cháu Hoàng Khánh L, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2003. Sau khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu L cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Y yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000đ (Một triệu đồng)/ tháng kể từ tháng 10 năm 2017 cho đến khi cháu L trưởng thành đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Chị Y và anh V có một ngôi nhà mua năm 2009 tại địa chỉ: số nhà …, tổ 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Với giá 460.000.000 đ (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng). Trong đó tiền của anh V góp vào tiền mua nhà là 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng), tiền chị Y đứng tên vay Ngân hàng để cùng anh V mua nhà là 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Khi ly hôn chị Y đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản riêng: Của người nào người ấy sử dụng.

- Về nợ chung: Hiện tại nợ Ngân hàng nông nghiệp huyện Đ, tỉnh Hà Giang đến thời điểm tháng 4 năm 2017 là 310.267.000đ (Ba trăm mười triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đ, tỉnh Hà Giang 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) chị Yên tự nguyện chịu.

* Bản tự khai ngày 12 tháng 4 năm 2017, biên bản lấy lời khai ngày 01 tháng 6 năm 2017 và lời khai tại Tòa án, anh Hoàng Văn V trình bày: Anh và chị Y kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09 tháng 01 năm 2002 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Sau khi kết hôn và chung sống với nhau được một thời gian thì giữa hai vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, trong cuộc sống hay cãi, chửi nhau. Nguyên nhân là do anh không có việc làm, không có thu nhập, trong cuộc sống anh chị chưa thật sự hiểu nhau nên không thể hòa hợp. Vì vậy, anh nhất trí ly hôn theo nguyện vọng của chị Y.

- Về con chung: Anh và chị Y có 01 (một) con chung là cháu Hoàng Khánh L, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2003. Sau khi ly hôn, anh nhất trí để chị Y nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn V đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức 1.000.000đ (Một triệu đồng)/ tháng đến khi cháu Hoàng Khánh L đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Anh V và chị Y có một ngôi nhà được mua vào năm 2009 tại địa chỉ: số nhà .., tổ 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang với giá 460.000.000đ (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng) Anh V không nhất trí chia tài sản chung là ngôi nhà và anh cho rằng ngôi nhà là do anh dùng tiền bán nhà của anh do bố mẹ cho ở thành phố Hà Giang để mua.

- Về tài sản riêng: Của người nào người ấy sử dụng.

- Về nợ chung: Hiện tại nợ Ngân hàng nông nghiệp huyện Đ, tỉnh Hà Giang đến thời điểm tháng 4 năm 2017 là 310.267.000đ (Ba trăm mười triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đ, tỉnh Hà Giang 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) số tiền này do chị Y tự vay anh không biết nên anh không có trách nhiệm.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 4 năm 2017, cháu Hoàng Khánh L trình bày: Trong cuộc sống hàng ngày, cháu thấy bố mẹ sống không hạnh phúc, bố cháu không làm gì giúp đỡ mẹ trong công việc gia đình mà còn thường xuyên gây sự cãi nhau với mẹ. Nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn ở với mẹ hơn, vì bố hay mắng và đánh cháu.

* Tại biên bản xác minh của Tòa án ngày 25 tháng 4 năm 2017, đại diện Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đ, tỉnh Hà Giang cung cấp: Năm 2009, chị Điền Loan Y có đứng tên vay ngân hàng số tiền là 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng) với mục đích mua nhà, tiền gốc và tiền lãi hàng tháng chị Y trả qua lương là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), khi đến thời gian đáo hạn chị Y chưa trả hết nợ, nên ngày 06/4/2012 chị Y vay tiếp 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu) để trả số tiền gốc vay trước, khi đến hạn chị Y chưa trả được nợ, nên ngày 18/9/2013 chị Y vay tiếp 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) để trả số tiền gốc và lãi; ngày 27/3/2015 chị Y vay 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) để trả số tiền gốc vay trước; ngày 10/8/2016 chị Y vay 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) để trả nợ số tiền vay trước đã đến hạn. Tất cả số lần chị Y đứng tên vay ngân hàng đều có chữ ký của anh Hoàng Văn V với tư cách là người thừa kế. Tính đến thời điểm tháng 4/2017 số dư nợ tại Ngân hàng nông nghiệp huyện Đ là 310.267.000đ (Ba trăm mười triệu hai trăm sáu bảy nghìn đồng).

- Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa có ý kiến. Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án về việc “xin ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung” là đúng quy định pháp luật, đúng thẩm quyền và xác định đúng những người tham gia tố tụng. Quá trình thụ lý vụ án, Thẩm phán đã tiến hành lấy lời khai, tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tiến hành ra quyết định xem xét thẩm định, định giá tài sản là nhà đang tranh chấp và chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 98, 101,104, 203, 205, 208 và Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Đã thực hiện đúng quy định tại Điều 49, 63 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng quy định tại Điều 51, 237 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

+ Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết Tòa án đã thông báo mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ 02 lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, khi tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ ba, anh V có mặt nhưng không ký biên bản hòa giải, do đó anh V đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 và của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên hòa giải lần này chị Y và anh V đã thỏa thuận được với nhau về việc Ly hôn; nuôi con; cấp dưỡng nuôi con, không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:

+ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V.

+ Về con chung: Giao cháu Hoàng Khánh L, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2003 cho chị Điền Loan Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự là anh Hoàng Văn V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Hoàng Khánh L đủ 18 tuổi.

+ Về tài sản chung: Căn cứ vào số tiền đóng góp của mỗi bên đương sự tại thời điểm mua nhà và công sức đóng góp, duy trì và tạo lập khối tài sản chung của mỗi bên, căn cứ vào trị giá tài sản theo kết luận định giá, đề nghị Hội đồng xét xử chia cho mỗi bên đương sự một phần hai giá trị ngôi nhà.

+ Về nợ chung: Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự là chị Điền Loan Yên tự nguyện chịu trách nhiệm trả nợ số tiền vay Ngân hàng nông nghiệp là 310.267.000đ; Ngân hàng chính sách xã hội là 50.000.000đ.

+ Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bên đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về pháp luật tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo cho bị đơn anh Hoàng Văn V biết là nguyên đơn chị Điền Loan Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, giải quyết việc nuôi con và chia tài sản chung với anh V. Tòa án đã tiến hành triệu tập và  thông báo mở phiên hòa giải 02 lần (Thông báo hòa giải lần 01 vào ngày 13/7/2017; lần 02 vào ngày 09/8/2017) nhưng anh Vương đều vắng mặt không có lý do. Tòa án mở phiên hòa giải lần 03 vào ngày 21/8/2017 nhưng hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về tài sản chung nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

[2] Về pháp luật nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, ngày 09/01/2002. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống khó khăn về kinh tế nên đã gây ảnh hưởng lớn đến tình cảm của vợ chồng và tâm sinh lý của con. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng hai bên nhất trí thỏa thuận việc ly hôn, nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con; chị Y và anh V không thỏa thuận được với nhau về chia tài sản chung là ngôi nhà xây 1,5 tầng tọa lạc tại thửa đất sô 17a tờ bản đồ số 31, diện tích 80m2 , tại địa chỉ số nhà …tổ 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, trị giá 1.438.578.240đ (Một tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi đồng). Tại phiên tòa, chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con. Anh Hoàng Văn V hoàn toàn đồng ý. Xét thấy cuộc sống chung giữa chị Yên và anh V không hòa thuận, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 55 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, để công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V.

[3] Về con chung: Chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V có 01 (một) con chung là cháu Hoàng Khánh L, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2003.  Chị Y và anh V thỏa thuận sau khi ly hôn, chị Y sẽ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Đồng thời, tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 4 năm 2017, cháu Hoàng Khánh L cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, công nhận sự thỏa thuận trên của các bên đương sự.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V thỏa thuận anh Hoàng Văn V có nghĩa vụ cấp dưỡng một tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Hoàng Khánh L đủ 18 tuổi. Sự thỏa thuận trên phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được công nhận.

[5] Về tài sản chung: Chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V đều công nhận vợ chồng có một ngôi nhà xây 1,5 tầng; diện tích 103,2 m2 tọa lạc tại thửa đất số 17a tờ bản đồ số 31, diện tích 80m2 , tại địa chỉ số nhà … tổ 7, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, là tài sản chung do vợ chồng nhận chuyển nhượng từ anh Phạm Đức H và chị Bùi Thị Thu Th vào ngày 11/11/2009 với giá 460.000.000đ (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng) và đều đứng tên chị Y, anh V trong Hợp đồng nhận chuyển nhượng và trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giá trị nhà, đất được xác định theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản ngày 26/6/2017 là 1.438.578.240đ (Một tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi đồng).

Xét về nhu cầu và nguyện vọng của các bên đương sự:

Phía nguyên đơn chị Điền Loan Y đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chia đôi tài sản là trị giá ngôi nhà, mỗi bên được hưởng một phần hai giá trị ngôi nhà, chị Yên có nguyện vọng được nhận bằng tiền mặt.

Phía bị đơn anh Hoàng Văn V không nhất trí chia tài sản chung là ngôi nhà, anh V cho rằng đây là tài sản riêng của anh.

[6] Xét về nguồn gốc ngôi nhà nói trên là do vợ chồng chị Y và anh V cùng nhau góp tiền mua trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại, chị Y và anh V kết hôn với nhau vào ngày 09/02/2002, ngôi nhà được mua năm 2009 với giá là 460.000.000đ (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng). Trong đó, tiền của anh V là 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng); số tiền của chị Y có là 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng).

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên hòa giải anh V cho rằng ngôi nhà là do anh bán đất của bố mẹ cho riêng anh để mua, do đó là tài sản riêng của anh, tại phiên tòa anh V không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh ngôi nhà trên là tài sản riêng.

Theo biên bản xác minh ngày 25/4/2017 tại Ngân hàng đã xác định tại thời điểm mua nhà chị Điền Loan Yên đã vay 160.000.000đ để với mục đích mua nhà, hàng tháng chị Y trả nợ Ngân hàng qua lương là 4.000.000đ từ tháng 8/2009 đến ngày 28/3/2012; đến ngày 06/4/2012 chị Y vay tiếp 140.000.000đ để trả số nợ vay kỳ trước đến hạn còn nợ là 97.287.000đ, chị Y trả nợ Ngân hàng qua lương mỗi tháng 5.300.000đ; ngày 18/9/2013 chị Y vay tiếp 200.000.000đ để trả số dư nợ kỳ trước là 84.500.000đ và trả nợ cho Ngân hàng qua lương hàng tháng có là 6.000.000đ; ngày 27/3/2015 chị Yên vay tiếp 300.000.000đ để trả số nợ vay Ngân hàng kỳ trước còn lại là 84.740.000đ và chị trả nợ Ngân hàng qua lương mỗi tháng 7.000.000đ; ngày 10/8/2016 chị Yên vay tiếp 350.000.000đ. Những lần vay tiền Ngân hàng chị Y đều trích một phần tiền lương để trả nợ, số tiền còn lại chị đều sử dụng vào việc chi tiêu cho sinh hoạt với lý do anh Vương không có việc làm và thu nhập nên chị phải lo mọi chi phí trong gia đình và trả nợ. Căn cứ vào biên bản xác minh tại Ngân hàng đối với những lần chị Điền Loan Y đã vay và số tiền chị Y trả nợ Ngân hàng từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 8 năm 2016 qua lương đã thể hiện công sức đóng góp của chị Y vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, là trị giá ngôi nhà trong suốt quá trình vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2009 đến tháng 03 năm 2017 là ngang bằng với số tiền anh V đóng góp ban đầu. Vì vậy, Tòa án đã xác định ngôi nhà số …, tổ 7 thị trấn Đ, huyện Đ là tài sản chung giữa chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V, do đó cần áp dụng Điều 33, 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chia đôi mỗi bên được hưởng 1/2 giá trị ngôi nhà là phù hợp. Xét  nhu cầu của các bên, nên cần giao cho anh Hoàng Văn V được quyền sở hữu ngôi nhà trị giá 1.438.578.240đ (Một tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi đồng). Anh Hoàng Văn V có trách nhiệm thanh toán cho chị Điền Loan Y một phần hai giá trị ngôi nhà là 719.289.912đ (Bảy trăm mười chín triệu hai trăm tám mươi chín nghìn chín trăm mười hai đồng).

[7] Về nợ chung: Chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V xác nhận hiện tại nợ Ngân hàng nông nghiệp huyện Đ đến thời điểm tháng 4 năm 2017 là 310.267.000đ (Ba trăm mười triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đ 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).

Hai bên thỏa thuận chị Điền Loan Y tự nguyện chịu trách nhiệm trả nợ cho hai ngân hàng. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện nên ghi nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không cần đưa đại diện của hai Ngân hàng vào tham gia tố tụng vẫn đảm bảo giải quyết triệt để vụ án.

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. 

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Điền Loan Y

- Không chấp nhận ý kiến của bị đơn anh Hoàng Văn V về việc không chia tài sản tranh chấp là ngôi nhà.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28,146 và Điều 147; 165 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 33,51,53,55,59,81,82,83  của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ theo Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V.

- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V, sẽ giao cháu Hoàng Khánh L, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2003 cho chị Điền Loan Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Điền Loan Y và anh Hoàng Văn V. Anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng chẵn).Thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Hoàng Khánh L đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

+ Anh Hoàng Văn V được quyền sở hữu ngôi nhà xây 1,5 tầng, diện tích 103,2M2  tọa lạc tại thửa đất số 17a, tờ bản đồ số 31 thị trấn Đ, diện tích đất 91,2m2. Địa chỉ số nhà …, tổ 7 thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Phía Đông giáp nhà anh Phạm Đình P, dài 22,8m; phía Tây giáp nhà anh Lê Thanh H, dài 22,8m; phía Nam giáp đường quốc lộ rộng 04 m; phía Bắc giáp ruộng lúa rộng 04 m; tổng trị giá 1.438.578.240đ (Một tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm bốn mươi đồng).

+ Anh Hoàng Văn V có nghĩa vụ thanh toán cho chị Điền Loan Y một phần hai giá trị ngôi nhà là 719.289.912đ (Bảy trăm mười chín triệu hai trăm tám mươi chín nghìn chín trăm mười hai đồng).

- Về nợ chung: Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, chị Điền Loan Yên có nghĩa vụ trả cho nợ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh huyện Đ của tỉnh Hà Giang số nợ còn lại tính đến thời điểm tháng 4 năm 2017 là 310.267.000đ (Ba trăm mười triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); chị Loan Yên trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành xong.

- Tài sản riêng của người nào thuộc quyền sở hữu của người đó.

-  Về án phí:

+ Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Điền Loan Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai số 03019 ngày 13/3/2017;

+ Về án phí dân sự: Anh Hoàng Văn V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con.

+ Về án phí dân sự giá ngạch: Chị Điền Loan Y phải chịu 32.771.000đ (Ba mươi hai triệu bảy trăm bảy mốt nghìn đồng); anh Hoàng Văn V phải chịu 32.771.000đ (Ba mươi hai triệu bảy trăm bảy mốt nghìn đồng).

- Về chi phí định giá tài sản: Chị Điền Loan Y tự nguyện chịu 2.000.000đ (Hai triệu đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng chị Y đã nộp theo phiếu thu ngày 09/6/2017.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ”.

Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


87
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về