Bản án 02/2021/HS-ST ngày 27/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 02/2021/HS-ST NGÀY 27/01/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 01 năm 2021; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Phúc L, sinh năm: 1988; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ô 2 ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Minh T, sinh năm 1952 (Đã chết) và Trần Thị L, sinh năm: 1954 (Đã chết); Gia đình bị cáo có 03 chị em; bị cáo là con út trong gia đình. Bị cáo chưa có vơ, con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án.

- Ngày 28/12/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa tuyên xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/5/2018.

- Ngày 28/02/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 23/11/2019.

Nhân thân: Ngày 02/3/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm tuyên phạt15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Ngày 12/12/2013, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, chấp hành xong ngày 08/12/2015.

mặt) Bị cáo bị tạm giam ngày 28/10/2020(Có mặt).

- Bị hại:

+ Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: Tổ 5 Ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.(Vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Minh Th, sinh năm 1995 Nơi cư trú: Tổ 11 Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.(Có

+ Bà Trần Thị Thu Th, sinh năm 1987 Địa chỉ: Tổ 11 Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/02/2019, Trần Phúc Lợi (tên gọi khác: H; sinh năm: 1988; trú Ô 2 ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 23/11/2019. Ngày 28/10/2020, Lợi tiếp tục cùng với Trần Minh Th (sinh năm: 1995; trú ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Khong 11 giờ ngày 28/10/2020, Trần Minh Th điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số 72D1-019.69 đến nhà Trần Phúc L chơi. Tại đây, L rủ Th đi trộm cắp tài sản, Th đồng ý. Sau đó, Th điều khiển xe Sirius chở L đi đến khu vực nhà đang xây của ông Đinh Văn Đ (sinh năm: 1985) tại khu phố H, thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Riạ- Vũng Tàu, cả hai phát hiện 01 cuộn sắt dạng cuộn tròn, loại sắt phi 6, hiệu VinaKyoei có tổng trọng lượng 86 kg không có người trông coi. Th dừng xe ngay chỗ cuộn sắt, Th cùng L bê cuộn sắt để lên xe Sirius, L ngồi phía sau giữ cuộn sắt, Th điện khiển xe chạy đến tiệm ve chai của ông Dương Văn H ở tổ 10, khu phố P, thị trấn Đ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Th và L chưa kịp bán cuộn sắt thì bị người dân phát hiện bắt giữ giao Công an. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ, Th và L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vừa nêu trên. (BL 66 đến 74; 77 đến 81).

Tại Biên bản kết luận định giá tài sản số: 52/KLĐG ngày 05/11/2020, của Hội đồng định giá tài sản huyện Đất Đỏ kết luận: 01 cuộn sắt dạng cuộn tròn, loại sắt phi 6, hiệu VinaKyoei có tổng trọng lượng là 86 kg có giá trị là 1.376.000 đồng. (BL 18 đến 21).

* Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 03/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại 01 cuộn sắt dạng cuộn tròn, loại sắt phi 6, hiệu VinaKyoei có tổng trọng lượng là 86 kg cho ông Đinh Văn Đúng quản lý. Hiện ông Đúng không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự. (BL 25, 26).

* Về xử lý vật chứng của vụ án:

Qua xác minh, 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số: 72D1- 019.69 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Thu Th (sinh năm: 1987 – là chị của Trần Minh Th; trú tổ 11, ấp Bắc 2, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu), Thủy không biết việc Th lấy xe đi trộm cắp tài sản. Ngày 03/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại xe cho chị Th. (BL 30, 31).

Quá trình điều tra, Trần Phúc L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, gia đình L có công với cách mạng. L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 04/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ đã truy tố bị cáo Trần Phúc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố sau khi tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Phúc L từ 14 đến 18 tháng tù.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian chưa được xóa án tích về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/10/2020 Trần Phúc L cùng với Trần Minh Th tiếp tục trộm cắp của ông Đinh Văn Đ ở khu phố H, thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 01 cuộn sắt dạng cuộn tròn, loại sắt phi 6, hiệu VinaKyoei có tổng trọng lượng là 86 kg trị giá 1.376.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Phúc L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Xét thấy, bị cáo là công dân đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe nhưng bị cáo lại lười lao động, để có tiền tiêu xài bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là táo bạo liều lĩnh. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù về tội Trộm cắp tài sản vào năm 2019, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nhà nước, của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần tuyên một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên xem xét áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy, đối với Trần Minh Th do tài sản trộm cắp ngày 28/10/2020 có giá trị nhỏ hơn 2.000.000 đồng, qua xác minh đối tượng Th chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên hành vi của Th không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 03/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đất Đỏ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 212/QĐ đối với Trần Minh Th với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 của Nghị định số 167/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của Chính Phủ.

Đối với ông Dương Văn H chủ tiệm ve chai, do ông H không hứa hẹn trước, không mua sắt từ L và Th nên không đủ cơ sở để xử lý ông H về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Do đó, Viện kiểm sát không truy tố Trần Minh Th và Dương Văn H là đúng quy định pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Không. [5] Về xử lý vật chứng:

- 01 cuộn sắt dạng cuộn tròn, loại sắt phi 6, hiệu VinaKyoei có tổng trọng lượng là 86 kg, ngày 03/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại cho ông Đinh Văn Đ là đúng quy định pháp luật.

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen biển số: 72D1-019.69 là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Thu Th (sinh năm: 1987 – là chị của Trần Minh Th; trú tổ 11, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu), Th không biết việc Th lấy xe đi trộm cắp tài sản. Ngày 03/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại xe cho chị Th là đúng quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phúc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt:

Trần Phúc L 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Phúc L phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27-01-2021); đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án.


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về