Bản án 02/2019/HNGĐ-PT ngày 01/03/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 02/2019/HNGĐ-PT NGÀY 01/03/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2019/TLPT-HNGĐ, ngày 04 tháng 01 năm 2019, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 76/2018/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2019/QĐ-PT ngày 14 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh H, sinh năm 1991, cư trú tại: Ấp Bàu B, xã Thạnh B, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Thanh C, sinh năm 1986, cư trú tại: Ấp Bàu B, xã Thạnh B, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

Người kháng cáo: Anh Lê Thanh C là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15-10-2018 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn, chị Võ Thị Thanh H trình bày:

Chị và anh Lê Thanh C chung sống từ năm 2010, có giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Thạnh B, huyện Tân B cấp. Chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, anh C đánh đập, bóp cổ chị, bỏ mặc chị tự nuôi con. Chị đã khởi kiện xin ly hôn với anh C vào tháng 7 năm 2018 nhưng sau đó rút đơn vì muốn đoàn tụ cùng lo cho con, sau khi rút đơn vẫn không đoàn tụ được, nhà đã bán không chung sống với nhau, anh C thường tìm chị chửi mắng gây sự, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay, tình cảm không còn, không thể chung sống được. Chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Thị T, sinh ngày 05-4-2011, sống với chị, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Thanh C trình bày:

Anh thống nhất với chị H về thời gian kết hôn, thời gian ly thân, Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh phải đi cạo mủ cao su ban đêm, ban ngày đi làm thuê, không có thời gian cho vợ, con. Anh có đánh và bóp cổ chị H nhưng vì nóng giận khi chị H đi chơi cả đêm, anh nghi ngờ chị H ngoại tình. Anh vẫn còn thương vợ nên không chấp nhận ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu T. Nếu buộc phải ly hôn anh chấp nhận cho chị H nuôi cháu T, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 76/2018/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, chị H được ly hôn với anh C.

Về con chung: Giao cháu Lê Thị T cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh Lê Thanh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Võ Thị Thanh H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, anh Lê Thanh C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thanh H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh C giữ nguyên kháng cáo.

Anh C và chị H xác định vợ chồng không có nợ chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Hôn nhân giữa chị Võ Thị Thanh H và anh Lê Thanh C là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên giữa anh, chị đã phát sinh mâu thuẫn, chị H khởi kiện xin ly hôn sau đó rút đơn về đoàn tụ nhưng vẫn không đoàn tụ được.

Chị H khai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, anh C thường đánh đập chị là có căn cứ, qua xác minh những người sống gần nhà chị H, anh C cung cấp anh C không lo cho vợ con, tự làm tự tiêu xài ghen tuông vô cớ, đánh đập chị H, có lần người hang xóm phải căn ngăn.

Xét thấy giữa chị H và anh C, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn với anh C là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Cháu Lê Thị T từ trước đến nay sống với chị H, chị H nuôi con tốt, bảo đảm nhu cầu về vật chất tinh thần cho con. Cháu T đã hơn 07 tuổi, có nguyện vọng được sống với mẹ nên Tòa án cấp sơ thẩm cho chị H tiếp tục nuôi cháu T là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Chị H và anh C không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về nợ chung: Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ nhưng tại phiên tòa phúc thẩm chị H, anh C khai không có nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Anh C kháng cáo yêu cầu không chấp cho chị H ly hôn với anh C là không có căn cứ, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Vị Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh C là có căn cứ.

[6] Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên anh C phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27, Điều 29 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Thanh C.

2. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 76/2018/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thanh H đối với anh Lê Thanh C về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

Cho chị Võ Thị Thanh H được ly hôn với anh Lê Thanh C.

Về con chung: Chị Võ Thị Thanh H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Thị T, sinh ngày 05/4/2011. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Lê Thanh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Võ Thị Thanh H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về tài sản chung: Chị Võ Thị Thanh H và anh Lê Thanh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Võ Thị Thanh H và anh Lê Thanh C khai không có.

Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Thanh H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp, theo Biên lai thu số: 0005732 ngày 18 tháng 10 năm 2018, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Về án phí phúc thẩm: Anh Lê Thanh C phải chịu 300.000 đồng, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm anh C đã nộp, theo Biên lai thu số: 0005785 ngày 29 tháng 11 năm 2018, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-PT ngày 01/03/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:02/2019/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về