Bản án 02/2018/HSST ngày 22/01/2018 về vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 02/2018/HSST NGÀY 22/01/2018 VỀ VỊ PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 22 tháng 01 năm 2018, tại Trụ  sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2017/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04A/2018/HSST- QĐ ngày 10/01/2018 đối với bị cáo - Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 01/11/1980.

Nơi sinh: Xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đồng Châu Nội, Xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam;             Dân tộc: Kinh;        Tôn giáo: Không. Văn hoá: 09/12;            Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950; Mẹ đẻ: Vũ Thị M, sinh năm 1957.

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2.

Vợ: Lê Thị Kim C, sinh năm 1983.

Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Năm 1999 tham gia nghĩa vụ quân sự đến năm 2001 xuất ngũ. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà).

* Người bị hại: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1951 (đã tử vong). Người đại diện:

1.Cụ Phạm Duy Tr, sinh năm 1929 (là bố ông Hoãn).

Trú tại: Thôn Riêm Trì, xã Tây Phong huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1951 (là vợ ông Hoãn).

Trú tại: Thôn Riêm Trì, xã Tây Phong, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

3. Chị Phạm Thị S, sinh năm 1974 (là con gái ông Hoãn).

Trú tại: ThônN, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

4. Chị Phạm Thị S1, sinh năm 1975 (là con gái ông Hoãn).

Trú tại: Thôn Q, xã Ph, huyện H, tỉnh Thái Bình.

5. Chị Phạm Thị S2, sinh năm 1978 (là con gái ông Hoãn). Trú tại: Khu 5, thị trấn T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

6.  Chị Phạm Thị Ph, sinh năm 1980 (là con gái ông Hoãn).

Trú tại: Thôn Đ, xã G, huyện H, tỉnh Thái Bình.

7.  Chị Phạm Thị M, sinh năm 1983 (là con gái ông Hoãn).

Trú tại: Thôn Lạc Phong, xã Đông Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

8.  Chị Phạm Thị H, sinh năm 1987 (là con gái ông Hoãn). Trú tại: Xóm 3, xã A, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Người được những người đại diện của người bị hại ủy quyền: Anh Vũ Minh

T, sinh năm 1975 (là con rể ông Phạm Văn H). Trú tại: Thôn Đ, xã G, huyện H, tỉnh Thái Bình.

* Người liên quan: Anh Lê Văn Ng, sinh năm 1984.

Trú tại: Tổ 27, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.

* Người làm chứng: Bà Tạ Thị Thúy H, sinh năm 1959. Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt anh T, anh Ng, chị H).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30’ ngày 24/8/2017 Nguyễn Văn D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Tran sit, loại 16 chỗ, BKS: 29B – 17299 (có giấy phép lái xe loại B2, không phù hợp với loại xe điều khiển) từ nhà đến xã Tây Phong để đón khách đi Hà Nội. Sau đó D tiếp tục chở khách đi lên ngã tư Trái Diêm. Khi đi đến địa phận thôn Tr, xã Ph, D phát hiện ông Phạm Văn H điều khiển xe đạp trên cầu ở bên phải theo chiều đi của D, D phán đoán ông H rẽ phải nên bấm còi, đánh lái sang trái để tránh vượt qua nhưng ông H điều khiển xe đạp sang đường. Do khoảng cách gần nên xe ô tô của D đã va quyệt vào phần thân xe đạp làm ông H ngã xuống lề đường bên trái, bánh trước bên trái xe ô tô của D đè và đẩy rê xe đạp về phía trước khoảng 01 m thì dừng lại ở cạnh đường bên trái. Hậu quả ông Hbị đa chấn thương vùng đầu được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội, đến 20 giờ cùng ngày ông H tử vong do chấn thương sọ não. Ngày 25/8/2017 Nguyễn Văn D đến Công an huyện Tiền Hải đầu thú và khai báo nội dung sự việc đã xảy ra.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận:   Khoảng  13  giờ  ngày 24/8/2017  bị  cáo  điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Tran sit loại 16 chỗ, BKS: 29B – 17299 (có giấy phép lái xe hạng B2 – không phù hợp với loại xe điều khiển) theo hướng từ xã Nam Hà đi xã Tây Phong. Khi đi đến khu vực ngã ba đường giao nhau thuộc địa phận thôn Tr, xã Ph, D phát hiện thấy xe đạp do ông Phạm Văn H điều khiển trên cầu phía bên tay phải theo chiều đi của D để sang đường. Do phán đoán sai, không làm chủ  tốc độ, tay lái nên D không kịp xử lý, dẫn đến xe ô tô do D điều khiển đã va quyệt vào xe đạp do ông Hoãn điều khiển. Hậu quả ông H bị đa chấn thương vùng đầu được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội, đến 20 giờ cùng ngày thì tử vong do chấn thương sọ não.

Bản cáo trạng số 02/KSĐT ngày 19/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2, Điều 202 Bộ luật hình sự.

Do từ ngày 01/01/2018  Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, do chuyển biến pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự;  xử phạt bị cáo từ  02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên là các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không khiếu nại hay có ý kiến gì.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và được chứng minh bằng:

- Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Tiền Hải lập ngày 24/8/2017 đã xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường ĐH 30 thuộc địa phận thônTr, xã Ph, huyện Tiền Hải, hiện trường tính theo hướng từ xã N đi thị Trấn T, hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên mặt đường đá láng nhựa tương đối bằng phẳng, lòng đường rộng 05m80, bên phải đường có đường bê tông rộng 02m65 đi hướng thôn Tr, xã Ph có độ mở là 09 m60, có cầu bê tông từ mép cầu đến độ mở tiếp giáp với đường ĐH 30 là 06m, lề đường rộng 01m50 cỏ mọc tự nhiên. Bên trái đường có đường bê tông thôn có độ mở 06m10, lề đường rộng 02m.

Xe ô tô BKS: 29B – 17299,  16 chỗ màu bạc dừng trên mặt đường và lề đường bên trái, đầu xe quay hướng Tây Bắc, đuôi xe quay hướng Đông Nam, trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải là 04m20, trục bánh sau bên phải cách mép đường phải 03m58.

Xe đạp mini màu đỏ 02 dóng nằm đổ nghiêng bên phải trên lề đường  bên trái dưới bánh xe ô tô trước bên trái. Đầu xe quay hướng Nam, đuôi xe quay hướng Bắc.

Trục bánh trước xe cách mép phải đường là 06m, trục bánh sau xe cách mép phải đường 05m94, từ trục bánh sau xe đo đến trục bánh trước bên trái xe ô tô là 0m55.

Hiện trường để lại 01 vết cày, 01 vết máu.

- Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình lập hồi 08h00’ ngày 29/8/2017.

- Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 24/8/2017 và Bản kết luận giám định pháp y số 182 ngày 28/8/2017 của Trung tâm pháp y, sở Y tế tỉnh Thái Bình kết luận: Ông Phạm Văn H bị đa chấn thương vùng đầu, mặt và toàn thân do tai nạn giao thông làm tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu, phù não, chết do chấn thương sọ não.

- Lời khai của người làm chứng là bà Tạ Thị Thúy.

Hành vi nêu trên của  bị cáo Nguyễn Văn D đã vi phạm khoản 9, Điều 8 Luật giao thông đường bộ (Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định,) và khoản 3, Điều 5 Thông tư 91 ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, quy định các trường hợp phải giảm tốc độ: "Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép đến mức không nguy hiểm (có thể dừng lại một cách an toàn) trong trường hợp qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức...” và gây hậu quả làm chết 01 người nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 24/8/2017 Nguyễn Văn D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Tran sit loại 16 chỗ, BKS: 29B – 17299 (có giấy phép lái xe hạng B2 – không phù hợp với loại xe  điều khiển) theo hướng từ xã Nam Hà đi xã Tây Phong. Khi đi đến khu vực ngã ba đường giao nhau thuộc địa phận thôn Diêm Trì, xã Tây Phong, D phát hiện thấy xe đạp do ông Phạm Văn H điều khiển trên cầu phía bên tay phải theo chiều đi của D để sang đường. Do phán đoán sai, không làm chủ  tốc độ, tay lái nên D không kịp xử lý, dẫn đến xe ô tô do D điều khiển đã va quyệt vào xe đạp do ông H điều khiển. Hậu quả ông H bị đa chấn thương vùng đầu bị tử vong do chấn thương sọ não.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2, Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 nhưng từ ngày 01/01/2018 Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, do chuyển biến pháp luật nên hành vi của Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây hậu quả làm chết người vì vậy cần phải xử phạt nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho đại diện người bị hại; thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; đại diện người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có thời gian tham gia quân đội, các tình tiết này được giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý và người bị hại cũng có một phần lỗi là khi di chuyển sang đường không quan sát nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp cho người bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát Điều tra - Công an huyện Tiền Hải đã lập biên bản quản lý chiếc xe ô tô 16 chỗ BKS 29 B – 172.99 và chiếc xe đạp mini hai dóng màu đỏ. Quá trình điều tra vụ án, cơ quan Điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu tài sản là phù hợp.

[8] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có các anh Lê Văn Ng sinh năm 1984 ở Tổ 27, phường M, quận C, Hà Nội là chủ xe ô tô và anh Vũ Ngọc Q, sinh năm 1982 ở khu 3, thị T  là người được anh Ng thuê lái xe ô tô trên. Qúa trình điều tra xác định anh Ng thuê D đi theo xe để quản lý xe và thu tiền; còn xe ô tô anh Ng giao cho anh Vũ Ngọc Q trực tiếp điều khiển. Sáng ngày 24/8/2017, sau khi hết ca, anh Q đã trả, giao xe cho D quản lý, đến trưa ngày 24/8/2017 khi thấy có khách gọi đón D đã tự ý điều khiển xe ô tô trên đi đón khách mà không thông báo cho anh Ng, anh Q biết. Vì vậy không có căn cứ để xử lý anh Ng, anh Q về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Hình phạt:  Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 260 điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D   02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm), thời gian tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

3. Trách nhiệm dân sự:  Đại diện hợp pháp cho người bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong, nay đại diện người bị hại không yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

4. Xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô16 chỗ BKS 29 B – 172.99 và chiếc xe đạp mini hai dóng màu đỏ cho chủ sở hữu tài sản.

5. Án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 22/01/2018. Đại diện người bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


188
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về