Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 18/01/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 02/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/01/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 18 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 422/2017/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2017 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L– sinh năm 1970.

Địa chỉ: xã TS, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn B – sinh năm 1966.

Địa chỉ: xã TS, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Chị L có mặt; anh B có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21/07/2017, bản tự khai ngày 21/11/2017, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25/12/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh B tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 1 năm 1987 và cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn, các bên không xác định được ngày cụ thể chung sống với nhau, chỉ xác định khoảng giữa tháng 01/1987 về chung sống với nhau. Lý do thiếu hiểu biết pháp luật, đường xá đi lại khó khăn nên không đi đăng ký kết hôn. Từ năm 1987 đến nay vợ chồng chung sống tại ấp 4, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Chung sống như vợ chồng hạnh phúc đến đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do anh B chi li tính toán, mỗi lần đi uống rượu về lại có lời nói và hành động đe dọa tính mạng chị. Đến năm 2017 thì anh B không còn quan tâm, chăm sóc chị nữa nên tình cảm gia đình lạnh nhạt, khó có thể hàn gắn. Tháng 02/2017 do không chịu đưng được nên chị đã sống ly thân với anh B cho đến nay. Nay chị nhận thấy chung sống vợ chồng vẫn không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng vì vậy chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị L và anh B có 03 con chung tên là Bùi Thị Yến T sinh ngày 01/10/1987, Bùi Văn H sinh ngày 04/10/1993 và Bùi Hoàng H sinh ngày 26/9/1996. Khi ly hôn do các con chung đã thành niên nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 21/11/2017, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25/12/2017 và tại phiên tòa bị đơn anh Bùi Văn B trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ giữa tháng 1 năm 1987 và cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn, các bên không xác định được ngày cụ thể chung sống với nhau, chỉ xác định khoảng giữa tháng 01/1987 về chung sống với nhau. Lý do thiếu hiểu biết pháp luật, đường xá đi lại khó khăn nên không đi đăng ký kết hôn. Từ năm 1987 đến nay vợ chồng chung sống tại ấp 4, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, bất đồng với nhau nhưng đã giải quyết xong. Từ tháng 02/2017 đến nay, chị L đi buôn bán làm ăn không trở về nhà. Anh và chị L đã sống ly thân từ tháng 02/2017 đến nay. Nay anh vẫn còn tình cảm với chị Lnên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị L có 03 con chung tên là Bùi Thị Yến T sinh ngày 01/10/1987, Bùi Văn H sinh ngày 04/10/1993 và Bùi Hoàng H sinh ngày 26/9/1996. Khi ly hôn do các con chung đã thành niên nên anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.

1) Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn B.

2) Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, không giải quyết.

3) Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Bùi Văn B hiện cư trú tại địa chỉ: Tổ 3, ấp 4, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Chị Bùi Thị L yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Bùi Văn B nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là "Ly hôn " theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về xác định tư cách đương sự: Chị Bùi Thị L là nguyên đơn; anh Bùi Văn B là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp L các văn bản tố tụng cho đương sự, nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về hôn nhân: Qua lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được thể hiện chị L và anh B tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ giữa tháng 01/1987 tức là sau ngày 03/01/1987 và cho đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Đời sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài mặc dù anh B không đồng ý ly hôn với chị L, nhưng chị L không muốn hàn gắn tình cảm và không tiếp tục sống chung vợ chồng.

Do chị L và anh B không đăng ký kết hôn và theo Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của luật này”. Vì vậy, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn B.

[6] Về con chung: Chị L và anh B có có 03 con chung tên là Bùi Thị Yến T sinh ngày 01/10/1987, Bùi Văn H sinh ngày 04/10/1993 và Bùi Hoàng H sinh ngày 26/9/1996. Chị L và anh B không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về con chung do các con chung đã thành niên.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[8] Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1) Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn B.

2) Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

3) Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 004489 ngày 06/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán. Chị L đã nộp đủ án phí.

Chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


124
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 18/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:02/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Quán - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về