Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 16/01/2018 về kiện xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 02/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/01/2018 VỀ KIỆN XIN LY HÔN

Trong ngày 16/01/2018 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2017/TLST-HNGĐ ngày 26/10/2017 về kiện xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78a/2017/QĐXX-ST ngày 21/12/2017 và Quyết định hoãn phiên toà số 51/2017/QĐST-HNGĐ  ngày 12/12/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1977

Địa chỉ cư trú: Tổ dân phố V, phường N, thành phố H, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1976

Địa chỉ cư trú: Tổ 5, tổ dân phố 8, phường S, thành phố H, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 20/10/2017, được bổ sung tại bản tự khai cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày:

- Về tình cảm: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Hữu N tìm hiểu nhau và quyết định đi đến hôn nhân, anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố H, tỉnh Quảng Bình theo giấy chứng nhận kết hôn số: 46 quyển số 01- 2003 ngày 04/9/2003. Quá trình chung sống của vợ chồng xẩy ra nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân chủ yếu là do anh N thường xuyên đập đánh chị, từ đó chị ra thuê nhà ở nhưng anh N vẫn thường xuyên đến gây sự với chị. Chị đã cố gắng và chịu đựng để kéo dài cuộc hôn nhân vì thương con và không muốn gia đình đổ vỡ. Nhưng vì áp lực từ gia đình chồng và sau này chồng chị không quan tâm, không lo lắng cho gia đình, mặc dù trong gia đình chồng chị đã làm tròn bổn phận một người vợ, người mẹ và người con dâu trong gia đình. Vì quá mệt mỏi và không thể chịu đựng được áp lực nên chị đã cùng con sống ly thân 13 năm nay, chị một mình nuôi con và lo lắng cho con. Anh N chưa một lần trợ cấp tiền nuôi con. Nay chị nhận thấy cuộc sống gia đình của anh chị không thể níu kéo. Tình cảm xác định không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyện vọng chị N xin được ly hôn với anh N.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày: 02/5/2004, Hiện con đang sống cùng chị N. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị N xin được tiếp tục nuôi con. Hiện nay chị đang buôn bán tại chợ quê có thu nhập đủ cho cuộc sống của mẹ con chị, còn anh N hiện có nghề phụ xe, nên chị yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ.

Cháu Nguyễn Văn H có đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu ba mẹ cháu ly hôn.

- Về tài sản chung: Chị N khai vợ chồng không có tài sản chung và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho anh Nguyễn Hữu N kèm theo giấy triệu tập đến tòa án nhưng anh N không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Tòa án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ cho anh N nhưng anh từ chối nhận, Tòa án đã trực tiếp giao giấy cho bố mẹ anh N và cam đoan sẻ giao giấy triệu tập cho anh N và Tòa án tiến hành niêm yết giấy triệu tập và Thông báo về phiên hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh N vẫn không đến Tòa án.

Qua xác minh tại gia đình bố mẹ anh N thì ông Nguyễn Hữu Đ là bố của anh Nam cho biết chị Trần Thị N đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ năm 2004 cho đến nay, không quan tâm gì đến anh N (con trai của ông) và cũng không có trách nhiệm gì cả. Về tình cảm vợ chồng của anh N và chị N thì ông không có ý kiến gì. Hiện anh N đang sinh sống cùng ông tại gia đình ở địa chỉ: TDP8, phường S, thành phố H, Quảng Bình, hàng ngày đi làm phụ xe cho người ta, thu nhập bao nhiêu ông không biết. Việc Tòa án đã trực tiếp giao giấy triệu tập cho anh N ông Đ đã nhận và giao cho anh N, nhưng anh N không hợp tác là do anh N đi làm tối mới về, không có thời gian mà xuống Tòa án. Ông xác định anh N không có tiền sử gì về bệnh tật liên quan đến thần kinh, không có bệnh án và sổ hưởng về chế độ bệnh tật.

Vì bị đơn không đến tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của BLTTDS. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Căn cứ vào quá trình giải quyết vụ án, tranh tụng tại phiên toà, đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Trần Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Hữu N. Chị N được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, anh N phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho anh N kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án nhưng anh N từ chối không nhận. Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo về phiên hòa giải và phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ tại nơi cư trú của bị đơn đồng thời tiến hành xác minh tại gia đình anh N. Nhận thấy, việc hòa giải vụ án không thể tiến hành được nên Tòa án đã mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được với sự có mặt của chị N ngày 21/12/2017 Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Quyết định xét xử số: 78a/2017/QĐST- HNGĐ ngày 06/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới nhưng bị đơn anh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất. Do đó, HĐXX ra Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2017/QĐST-HNGĐ ngày 21/12/2017 và ấn định thời gian xét xử vào ngày 16/01/2018 theo đúng quy định tại Điều 227, 233 BLTTDS. Nhưng bị đơn anh N vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ; HĐXX căn cứ vào Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, phiên tòa vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Hữu N.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Nguyễn Hữu N đã xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp, đáng lẽ ra anh, chị phải biết thương yêu, quý trọng chăm sóc lẫn nhau, nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Nhưng anh chị đã không làm được điều đó để giữ gìn hôn nhân bền vững mà lại để xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân hai bên thiếu thông cảm chia sẽ những khó khăn trong cuộc sống mà vợ chồng gặp phải, không biết cùng nhau gánh vác chuyện gia đình, không tìm được tiếng nói chung sau đó để mặc cuộc sống gia đình, sống ly thân, ai lo việc nấy không quan tâm gì đến nhau. Chị N cho rằng: Anh chị đến với nhau sống với nhau đã xảy ra mâu thuẩn, chị cố gắng chịu đựng, anh N hay đánh đập chị, nên chị phải về nhà mẹ đẻ để sinh sống nuôi con. Anh chị đã ly thân hơn 13 năm nay, nên cũng không mong muốn hàn gắn cuộc hôn nhân cũng như tìm cách khắc phục mâu thuẩn. Chị N xác định vợ chồng tình cảm không còn nên chị làm đơn xin ly hôn. Lời khai của chị cũng phù hợp với kết quả xác minh tại gia đình của anh N qua lời trình bày của ông Nguyễn Hữu Đ về cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hiện không tồn tại. Về phía anh N biết rõ chị N kiện xin ly hôn nhưng cũng không có ý gì muốn níu kéo hôn nhân mà thờ ơ để mặc, anh N cũng không mong muốn được tòa án hòa giải. Điều đó thể hiện rằng mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể sống chung hạnh phúc nên cần thiết phải cho chị N được ly hôn anh N là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày: 02/5/2004, Hiện con đang sống cùng chị N. Xét điều kiện của anh chị hiện nay đã sống ly thân, cháu H đang ở cùng chị N cháu đã trên 07 tuổi có đơn xin trình bày nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Chị N cũng có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con. HĐXX thấy yêu cầu của chị N là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần được chấp nhận. Hiện tại anh N có công việc là phụ xe cho người khác có thu nhập. Vì vậy HĐXX buộc anh N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị N hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000đ.

[2.3]  Về chia tài sản: Chị N khai không có tài sản chung và không có yêu cầu phân chia tài sản nên HĐXX không xem xét. 

[2.4]  Về án phí dân sự sơ thẩm:

Áp dụng Khoản 5 khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội 14.

Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng để sung quỹ Nhà nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000250 ngày 26/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Anh Nguyễn Hữu N không phải chịu

Án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ: Anh Nguyễn Hữu N phải chịu 300.000đ để sung quỹ Nhà nước. Chị Trần Thị N không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 227, 228 BLTTDS;

1. Về hôn nhân: Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử: Cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Nguyễn Hữu N.

2. Về nuôi con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Giao cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày: 02/5/2004 cho chị Trần Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Hữu N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000đ kể từ tháng 01 năm 2018 cho đến khi cháu Nguyễn Văn H tròn 18 tuổi.

Người không trực triếp nuôi con có quyền thăm con, không ai được ngăn cản người đó thực hiện quyền này.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án, xử:

Buộc chị Trần Thị N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn. Số tiền chị N phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo Biên lai số AA/2017/No 0000250 ngày 26 tháng 10 năm 2017.

Án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ: Anh Nguyễn Hữu N phải chịu 300.000đ để sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án tại chính quyền địa phương.


91
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 16/01/2018 về kiện xin ly hôn

Số hiệu:02/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Hới - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về