Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 14/03/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH  LÂM  ĐỒNG

BẢN ÁN 02/2018/HNGĐ-ST NGÀY 14/03/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 14 tháng 3 năm 2018; Tại hội trường trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2017/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2017 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXX-ST ngày 27 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Võ Hồng H; Sinh năm: 1986; Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện Đ , tỉnh L .

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị D; Sinh năm: 1989; Địa chỉ: Thôn 4, xã L, huyện Đ, tỉnh L .

Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn ly hôn ghi ngày 05  tháng 12 năm 2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của nguyên đơn ông Võ Hồng Htrình bày:

Ngày 22 tháng 5 năm 2009 anh với chị D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N. Thời gian  đầu anh và chị D chung sống hòa thuận. Sau một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, do đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Hiện nay anh và chị D đã ly thân không ai còn quan tâm đến ai nữa. Vì vậy anh  xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung vợ chồng không còn khả năng hàn gắn lại được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị D.

Về con chung: Trong thời gian chung sống thì anh và chị D chưa có con chung.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của bị đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Như anh H trình bày là hoàn toàn đúng, nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh H.

Về con chung: Không có con chung.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có.

Tòa án đã triệu tập nguyên đơn, bị đơn để tiến hành hòa giải nhưng bị đơn chị D có đơn xin vắng mặt. Vì vậy Tòa án không tổ chức hòa giải được.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án và yêu cầu của các bên đương sự: Anh H và chị D chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Xuân, huyện Tân Kỳ. Do đó hôn nhân của vợ chồng anh H chị D là hôn nhân phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên quá trình chung sống hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, Quá trình thụ lý giải quyết vụ án anh H, chị D đều có nguyện vọng ly hôn, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho anh H, chị D được ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Võ Hồng Hvà chị Nguyễn Thị D cùng trú tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng có đăng ký kết hôn, nên xác định hôn nhân giữa anh H chị D là hợp pháp. Do mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nghiêm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên anh Hải có yêu cầu ly hôn chị Duyên nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Hồng H và chị Nguyễn Thị D sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 22 tháng 5 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh N, nên xác định hôn nhân giữa anh H và chị D là hợp pháp. Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị D phát sinh nhiều mâu thuẫn từ khi chung sống nhưng nghiêm trọng nhất là từ tháng 9 năm 2009 cho đến nay, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không hòa giải được. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị N T D; chị D đồng ý ly hôn và có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Võ Hồng H

[3] Về con chung: Không có

[4] Về tài sản chung: Không có

[5] Về nợ chung: Không có.

[6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc nguyên đơn ông Võ Hồng H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56 và điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Võ Hồng H và bị đơn chị Nguyễn Thị D được ly hôn.

2. Về án phí: Buộc nguyên đơn anh Võ Hồng H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông Võ Hồng H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0003472 ngày 08 tháng 12 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo; Riêng bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm./.


130
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 14/03/2018 về ly hôn

Số hiệu:02/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đam Rông - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về