Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 10/01/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 02/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/01/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 10 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị L; sinh năm: 1995; cư trú tại: Thôn Xuân Áng, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; sinh năm: 1990; cư trú tại: Thôn Liên Hưng, xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà có mặt chị L; vắng mặt anh T. Anh T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2017 và tại bản tự khai ngày 02/11/2017, chị Hà Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 11/11/2015 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được 01 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 12/2015 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con cái: Vợ chồng không có con chung. Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 13/11/2017, anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh và chị Hà Thị L kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 11/11/2015 tại UBND xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được 02 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng anh sống ly thân từ tháng 12/2015 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.

Về con cái: Vợ chồng không có con chung. Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Theo ý kiến trình bày của hai bên đương sự trong bản tự khai, cũng như tại phiên toà: Chị Lan và anh Tú thuận tình ly hôn, vợ chồng không có con chung và cũng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy chị L và anh T thuận tình ly hôn và thoả thuận được tất cả các vấn đề có trong vụ án nhưng anh T không có mặt tại phiên hoà giải nên Toà án không ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Nguyễn Văn T không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Tú theo quy định tại khoản 3 điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh T đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS. Anh T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về hôn nhân: Chị Hà Thị L và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/11/2015 tại UBND xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, là do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2015 đến nay, không ai quan tâm tới ai. Chị L và anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng muốn được ly hôn. Điều đó chứng tỏ chị L, anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị L được ly hôn anh T.

[3] Về con cái: Chị Hà Thị L và anh Nguyễn Văn T không có con chung. Chị L, anh T không yêu cầu nên miễn xét.

[4] Về tài sản: Chị L, anh T không yêu cầu nên miễn xét.

[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về án phí: Chị Hà Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số AA/2015/0002134 ngày 30/10/2017. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị L, vắng mặt anh T. Chị L có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


97
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 10/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:02/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thành - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về