Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 08/01/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 02/2018/HNGĐ-ST NGÀY 08/01/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 08 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 400/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2017/QĐXX-ST ngày 07 tháng 12 năm 2017, giữa:

Nguyên đơn: Chị Lưu Thị D, sinh năm 1994 “có mặt” Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: Thôn Đông Mai, xã Mỹ An, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Trịnh Văn T, sinh năm 1992 “ vắng mặt” Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/10/2017 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lưu Thị  D trình bày:

Chị và anh Trịnh Văn T đăng ký kết hôn ngày 10/7/2015 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới chị về gia đình anh T làm dâu ngay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến tháng 11/2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hiểu và tin tưởng nhau, nên thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 8/2017 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Lục Ngạn sinh sống. Vợ chồng sống ly thân, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01con chung là Trịnh Trung H, sinh ngày 10/5/2016. Cháu H khỏe mạnh phát triển bình thường và hiện đang ở với anh T. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Hiện nay chị đang làm ở Công ty Sam Sung, thu nhập mỗi tháng từ 9-10 triệu đồng.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng chị không có.

Tại bản tự khai ngày 25/10/2017 và các lời khai tiếp theo,bị đơn anh Trịnh Văn T trình bày: Về thời gian đăng ký kết hôn và quá trình chung sống như chị D trình bày là đúng. Nguyên nhân vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau nên ghen tuông và nghi ngờ lẫn nhau. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh mong muốn chị D về đoàn tụ nhưng nếu như chị D nhất quyết xin ly hôn thì anh cũng nhất trí.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 con chung là Trịnh Trung H, sinh ngày 10/5/2016. Từ khi chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Lục Ngạn sinh sống cháu H vẫn ở với anh. Ly hôn anh đề nghị được nuôi con và không yêu cầu chị D cấp dưỡng. Hiện nay anh làm ở khu Công nghiệp Song Khê, Bắc Giang, mỗi tháng thu nhập 08 triệu đồng.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng anh không có.

Tại phiên tòa, anh T vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, chị D chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, anh T vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228, 271, 272 và 273 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị D và anh Trịnh Văn T.

Về nuôi con chung: Giao con chung Trịnh Trung H, sinh ngày 10/5/2016 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Anh T vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của BLTTDS xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị D và anh Trịnh Văn T đăng ký kết hôn ngày 10/7/2015 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, nên hôn nhân giữa chị D và anh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Lục Ngạn sinh sống. Vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay chị D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị D nhất quyết xin ly hôn anh T. Anh T mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh T cũng xác nhận vợ chồng không còn chung sống cùng nhau và chị D nhất quyết xin ly hôn anh cũng nhất trí. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa chị D và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị D được ly hôn anh T.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng chị D, anh T có 01con chung là Trịnh Trung H, sinh ngày 10/5/2016. Hiện nay cháu H đang ở với anh T. Nay cả chị D và anh T đều đề nghị được nuôi con và đều đủ điều kiện để nuôi con, nhưng do cháu H còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu H cho chị D nuôi dưỡng. Do chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản và công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228, khoản 4 Điều 147, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị D và anh Trịnh Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Trịnh Trung H, sinh ngày 10/5/2016 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này.

3. Về án phí: Chị Lưu Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ đi số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số AA/2017/0002718 ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


142
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 08/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:02/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về