Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 02/03/2018 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 02/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/03/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 02 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2017/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018QĐXXST- HNGĐ ngày 17/01/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2018/ QĐST- HNGĐ ngày 06/02/2018 giữa các đương sự:

-  Nguyên đơn

Phương Thị Ngọc G, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ số: 21, ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

-  Bị đơn : Ông Trần Văn T, sinh năm 1987( vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 8/11/2017; nguyên đơn bà Phương Thị Ngọc G trình bày:

Bà G và ông T kết hôn năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/7/2008.

Bà G và ông T chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 5/2017 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T bạo hành gia đình, có quen người phụ nữ khác bên ngoài.

Từ tháng 5/2017 đến nay mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai.

Bà G nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nửa. Vì vậy bà G làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung:

Bà G khai vợ chồng có một con chung tên: Trần Văn Đ, sinh ngày 13/8/2009.

Bà G xin được nuôi dưỡng con chung tên Trần Văn Đ, yêu cầu ông T cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không  yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia, nhưng ông T đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tung dân sư tiến hành xét xử vắng mặt ông.

- Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông T là quan hệ hợp pháp. Qua quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống ông T không quan tâm đến vợ con, nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. bà G xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, cha mẹ hai bên, chính quyền địa phương đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà G và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà G xin ly hôn ông T là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: Bà G có nguyện vọng được nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, ông T từ khi thụ lý, hòa giải cũng như tại phiên Tòa hôm nay đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày gì đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc con. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 30/11/2017 cháu Trần Văn Đ trình bày nguyện vọng, nếu cha mẹ ly hôn cháu xin được ở với mẹ, nên Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 2, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của bà G, giao cháu Đ cho bà G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Văn Đ.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện bà G yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ, nhưng tại phiên tòa hôm nay bà G xin rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với ông T. Xét thấy việc rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà G là hoàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của bà G và đình chỉ đối với yêu cầu cấp dưỡng của bà G.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án bà G phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét ử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ ngày thụ lý vụ án cho  đén trước thời điểm Hội đòng xét xử nghị án đã tuân tbeo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phương Thị Ngọc G đối với bị đơn Trần Văn T về việc "tranh chấp ly hôn và nuôi con", nguyên đơn Phương Thị Ngọc G được ly hôn với bị đơn Trần Văn T; giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Văn Đ, sinh ngày 13/8/2009 đến tuổi trưởng thành và bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 của Bộ  luật tố tụng dân sự.

-  Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án.

 Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phương Thị Ngọc G

- Về hôn nhân: Bà Phương Thị Ngọc G được ly hôn với ông Trần Văn T.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Văn Đ, sinh ngày 13/8/2009 cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

- Đình chỉ đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Phương Thị Ngọc G.

Ông Trần Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phương Thị Ngọc G phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0009842, ngày 08/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; Bà G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dânsự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


104
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 02/03/2018 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

Số hiệu:02/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về