Bản án 02/2018/DS-ST ngày 13/04/2018 về tranh chấp bồi thường thiệt hại tính mạng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 02/2018/DS-ST NGÀY 13/04/2018 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÍNH MẠNG

Ngày 13 tháng 04 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 14/2017/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2017, về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tính mạng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2017/QĐST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số03/QĐ-HPT ngày 15/03/2018 giữa:

1.Nguyên đơn: Chị Lê Thị L - Sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn Đa Lộc, Xã Thiệu Giang,Huyện Thiệu Hóa,Thanh Hoá.

2.Bị đơn: Ông Lê Văn T - Sinh năm 1950.

Địa chỉ:Thôn Phú Lai, Xã Thiệu Long, Huyện Thiệu Hóa,Thanh Hoá.

3.Người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

1.Bà Trần Thị Th – Sinh năm 1947

Địa chỉ: Thôn Đa Lộc, Xã Thiệu Giang, Huyện Thiệu Hóa,Thanh Hoá.

2.Cháu Đặng Kim Ng, Sinh ngày 30/03/2014

3.Cháu Đặng Quốc Phát, sinh ngày 26/02/2015

Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của cháu Ng và cháu Ph: Chị Lê Thị L ( mẹ đẻ)

Người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của bà Th là:

Chị: Lê Thị L – Sinh năm 1991(Con dâu bà Th ) theo giấy ủy quyền ngày 05/12/2017. Địa chỉ: Thôn Đa Lộc, Xã Thiệu Giang,Huyện Thiệu Hóa, Thanh Hoá.

4.Người làm chứng:

Anh Hàn Duyên Th - Sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Đa Lộc, xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

Anh Hàn Duyên Ngh – Sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đa Lộc, xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị Lê Thị L , ông Lê Văn T , anh Hàn Duyên Ngh được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/10/2017, quá trình tố tụng tại Tòa, Nguyên đơn và là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Vào 13 giời 40 phút ngày 27/8/2016 chồng chị là anh Đặng Đình H sinh ngày 05/06/1986 ở thôn Đa Lộc, xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa có bằng lái xe hợp lệ điều khiển xe máy BKS 36B1-474.09 phía sau chở H, Th và Hàn Duyên Ngh lưu thông trên đường liên xã gần trường cấp I xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa thì xe mô tô BKS 36L1- 1131 do ông Lê Văn T điều khiển đâm va vào chồng chị được người dân đưa vào trạm y tế xã Thiệu Long nhưng chồng chị đã chết. Quá trình chồng chị bị tai nạn cơ quan công an đã làm việc theo quy định của pháp luật. Theo các biên bản làm việc và theo Bản kết luận điều tra số 16/KLĐT ngày 26/10/2016 của Công an huyện Thiệu Hóa kết luận: Ông T không có giấy phép lái xe, đi lấn phần đường đâm va vào xe máy do chồng chị điều khiển (BL 01-111). Trong quá trình giải quyết vụ việc tại gia đình do ông Lê Văn T là bác rể lấy chị gái mẹ chị nên hai bên thống nhất để thương lượng không mổ tử thi để hai bên thống nhất bồi thường dân sự sau. Nhưng sau này ông T chỉ đến thắp hương và hỗ trợ tiền mai táng cho gia đình chị số tiền là 2.000.000đ vào ngày 29/08/2016 và không có ý kiến gì về việc bồi thường. Nay chị làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn T phải bồi thường các khoản sau:

-Buộc ông Lê văn T phải chịu khoản chi phí hợp lý cho việc mai táng là 12.100.000đ đối với cái chết của chồng tôi là anh Đặng Đình H do ông Lê Văn Trung gây tai nạn khiến chồng tôi tử vong tại chỗ. Ông T mới bồi thường được 2.000.000đ còn phải bồi thường tiếp 10.100.000đ.

-Buộc ông Lê Văn T phải chịu khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết gồm 02 con nhỏ của anh Đặng Đình H chưa thành niên là cháu Đặng Kim Ng, sinh ngày 30/03/2014; cháu Đặng Quốc Ph, sinh ngày 26/02/2016 và mẹ cuả người bị thiệt hại là bà Trần Thị Th, 70 tuổi không còn khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi bản thân.

-Buộc ông Lê Văn T phải chịu khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại số tiền 130.000.000đ

*Ý kiến ông Lê Văn T: Về việc tai nạn sảy ra ngày 25/08/2016 giữa ông và anh Đặng Đình H tại đường liên xã gần trường cấp I xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa là đúng, quá trình sảy ra tai nạn cơ quan công an mời ông lên làm việc nhiều lần, cơ quan công an đã làm việc theo quy định của pháp luật và tống đạt các quyết định tố tụng cho ông, cơ quan công an không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can. Ông không có lỗi, lỗi thuộc về người bị hại đi uống rượu về va quẹt vào ông khi ông đang đi từ từ bên phần đường của mình, dẫn đến anh Đặng Đình H đèo ba người ngã ra đường tử vọng. Ông không có lỗi nên ông không bồi thường mà chỉ hỗ trợ tiền mai tang phí 12.000.000đ cho gia đình chị Lài và bà Th. Ngoài ra ông không đồng ý với các khoản bồi thường về tổn thất tinh thần 130.000.000đ, tiền cấp dưỡng cho hai con anh H và bà Th mà chị L yêu cầu. Đề nghị tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án hình sự ông đã hỗ trợ gia đình chị Lài 2.000.000đ như chị L khai là đúng. Tại biên bản hòa giải ngày 05/12/2018 chị L yêu cầu ông T bồi thường tổng số tiền là 82.000.000đ(tám hai triệu đồng) trong đó tiền mai táng phí là 12.000.000đ và tiền bồi thường một lần tổn thất tinh thần cũng như là tiền cấp dưỡng cho ba người gồm hai cháu N, cháu Ph con anh H và bà Th mẹ đẻ ra anh H số tiền là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Ông T mới hỗ trợ tiền mai táng phí cho gia đình chị Lài số tiền 2.000.000đ(hai triệu đồng) vào ngày 29/08/2017 nay chị chỉ yêu cầu ông T bồi thường tổng số tiền là 80.000.000đ(tám mươi triệu đồng) ông T không thống nhất.

Quá trình giải quyết vụ án ông T khai nại ông không có lỗi gây ra cái chết cho anh H, do anh H uống rượu chở ba người, không đội mũ bảo hiểm đi lấn sang phần đường của ông đâm va vào ông ngã ra đường chết nhưng ông T không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho ý kiến phản biện của mình.

Tại phiên tòa chị Lài trình bày: Chồng chị là người khỏe mạnh bình thường không có bệnh mãn tính, bệnh tim hay bệnh gì liên quan đến tính mạng, chồng chị đang đi làm nhân viên giám sát thị trường cho công ty NTG về thời trang quần áo, mỗi ngày đi lại trên đường bằng xe máy từ 200 đến 300 km. Chồng chị đi làm 10 năm là nhân viên thị trường đi lại cẩn thận chưa gây tai nạn cho ai bao giờ. Việc không giám định tử thi là nghĩ đến tình cảm anh em gia đình nhưng ông T không hiểu biết, không có trách nhiệm gì nên buộc gia đình chị mới phải làm đơn ra tòa yêu cầu ông T phải có trách nhiệm bồi thường một lần cho gia đình chị tổng số tiền là 82.000.000đ(tám hai triệu đồng). Trong đó tiền mai táng phí là 12.000.000đ(mười triệu đồng), Tiền cấp dưỡng cho bà Th, cháu Ng và cháu Ph là 30.000.000đ(Ba mươi triệu đồng), tiền bồi thường về tổn thất tinh thần là 40.000.000đ(bốn mươi triệu đồng). Ngày 28/12/2017 (âm lịch) Ông T bồi thường tiền mai tạng cho gia đình chị thêm được 10.000.000đ(Mười triệu đồng) nay chị rút yêu cầu về phần bồi thường tiền mai táng đối với anh H , chỉ yêu cầu ông T phải bồi thường tiếp số tiền 70.000.000đ(tám mươi triệu đồng) trong đó tiền cấp dưỡng một lần cho bà Th, cháu Ng, cháu Ph là 30.000.000đ(ba mươi triệu), tiền bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho bốn người gồm chị, bà Th, cháu Ng và cháu Ph là 40.000.000đ(bốn mươi triệu)

Tại phiên tòa ông T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt: HĐXX công bố các lời khai của ông T có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa người làm chứng là anh Hàn Duyên Th người đi cùng với anh H trình bày: Thống nhất với lời khai của ông ông T, chị L về thời điểm sảy ra tai nạn. Trước khi sảy ra tai nạn các anh ăn cơm nhà anh H có uống bia, mỗi người uống 1-2 chai bia cách vụ tại nạn khoảng 2 tiếng đồng hồ. Sau khi ăn cơm các anh đi xuống nước ở ngã ba xã Thiệu Long. Đến 13 giờ 40 phút thì về đến gần trường cấp 1 Thiệu Long thì xảy ra tai nạn. Khi đó anh Hùng là người điều khiển mô tô, các anh hoàn toàn tỉnh táo vừa đi vừa nói chuyện, tốc độ xe lúc đó khoảng 30km/h, đi đúng phần đường của mình, lúc xảy ra tai nạn đường vắng người, phía trước có một xe máy(sau này mới biết là xe ông T điều khiển) đi xuống dốc tốc độ cao hơn các anh, khi đi gần đến xe các anh thì ông T điều khiển xe tranh con bò đi lấn sang phần đường các anh đang lưu thông dẫn đến đâm va vào xe các anh do anh H điều khiển. Làm ba ngã ra đường, anh H ngã nằm sấp xuống đường, khi lật người lại thì anh H đang thở ra, máu mồm, máu mủi, máu tai chảy ra, khi đưa đi cấp cứu vào đến trạm xá cách đó 50m thì H chết, còn Ngh thì gãy chân, anh bị sây sát nhẹ. Anh Ngh không yêu cầu ông T bồi thường gì. Hai anh không đi giám định thương tật. Không có yêu cầu gì. Tại phiên tòa anh khẳng định ông T là người có lỗi không có giấy phép lái xe đi lấn phần đường đâm va vào xe các anh gây ra cái chết cho anh H. Đề nghị tòa án giải quyết theo pháp luật, buộc ông T có trách nhiệm bồi thường cho gia đình anh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa phát biểu quan điểm:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía Nguyên đơn yêu cầu ông Lê Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình chị Lài là tổng số tiền là 70.000.000đ(tám mươi triệu đồng) trong đó tiền cấp dưỡng một lần cho bà Thách, cháu Ngân, cháu Phát là 30.000.000đ(ba mươi triệu), tiền bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho bốn người gồm chị, bà Th, cháu Ng và cháu Ph là 40.000.000đ(bốn mươi triệu)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của đương sự, người làm chứng và kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị L là vợ anh Đặng Đình H (đã chết trong tai nạn giao thông) khởi kiện ông Lê Văn T người gây ra tai nạn đối với anh H cùng cư trú và sống trên địa bàn huyện Thiệu Hóa là quan hệ tranh chấp “Bồi thường thiệt hại ngoài ngoài hợp đồng mà cụ thể là “Bồi thường thiệt hạn về tính mạng”, căn cứ vào quy định tại Điều 26 và Điều 35 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa. Tại phiên tòa ông Lê Văn T là bị đơn trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vẫn giải quyết theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Vào 13 giời 40 phút ngày 27/6/2016 chồng chị L là anh Đặng Đình H sinh ngày 05/06/1986 ở thôn Đa Lộc, xã Thiệu Giang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa có bằng lái xe hợp lệ điều khiển xe máy BKS 36B1-474.09 phía sau chở Hàn Th và Hàn Duyên Ngh lưu thông trên đường liên xã gần trường cấp I xã Thiệu Long, huyện Thiệu Hóa thì xe do chồng chị điều khiển bị xe máy BKS 36L1- 1131 do ông Lê Văn T điều đâm va gây tại nạn, anh H đã được người dân đưa vào trạm y tế xã Thiệu Long nhưng đã chết. Quá trình giải quyết vụ tai nạn cơ quan công an điều tra công an huyện Thiệu Hóa đã làm việc theo quy định của pháp luật. Theo các biên bản làm việc, biên bản hiện trường, giám định phương tiện và theo Bản kết luận điều tra số 16/KLĐT ngày 26/10/2016 của Công an huyện Thiệu Hóa kết luận: Ông T không có giấy phép lái xe, đi lấn phần đường đâm va vào xe máy do anh Đặng Đình H điều khiển (BL 01-111). Trong quá trình giải quyết vụ việc tại gia đình do ông Lê Văn T là bác rể lấy chị gái mẹ chị L nên hai bên thống nhất để thương lượng không mổ tử thi để hai bên thống nhất bồi thường dân sự sau. Tại đơn khởi kiện chị Lài yêu cầu ông T phải có trách nhiệm bồi thường số tiền: 140.100.000đ trong đó có tiền mai táng phí 10.100.000đ; tiền bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần cho những hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Th, chị L, cháu Ng, cháu Ph; Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết gồm 02 con nhỏ của anh Đặng Đình H chưa thành niên là cháu Đặng Kim Ng, sinh ngày 30/03/2014; cháu Đặng Quốc Ph, sinh ngày 26/02/2016 và mẹ cuả người bị thiệt hại là bà Trần Thị Th, 70 tuổi không còn khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi bản thân. Tại phiên tòa ngày 13/04/2018 chị Lê Thị Lài xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền mai táng phỉ, chỉ yêu cầu ông T bồi thường tổng số tiền là 70.000.000đ(Bảy mươi triệu đồng) . Trong đó tiền cấp dưỡng cho bà Th, cháu Ng và cháu Ph một lần là 30.000.000đ(Ba mươi triệu), tiền bồi thường về tổn thất tinh thần cho chị, cháu Ng, cháu Ph và bà Th một lần là 40.000.000đ(ba mươi triệu đồng). Xét yêu cầu rút một phần đơn khởi kiện của chị L là tự nguyện, không bị ép buộc, không trái đạo đức xã hội cần được chấp nhận.

Xét lỗi trong vụ án: Với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng ý kiến tranh luận của các đương sự, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thiệu Hóa điều tra vụ việc tai nạn giao thông giữa xe mô tô do ông T điều khiển và xe mô tô do anh H điều khiển, tại biên bản hiện trường vào 14h ngày 27/08/2016, Biên bản khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định số 1299/PC54 ngày 01/09/2019, các biên bản lấy lời khai, Kết luận điều tra số 16/KLĐT ngày 26/10/2016 thấy rằng vụ việc tai nạn rảy ra phần lỗi do ông T không có giấy phép lái xe, đi lấn phần đường đâm va vào xe máy do anh H điều khiển dẫn đến cái chết của anh H. Việc không giám định tử thi của anh H là do gia đình anh H có quan hệ anh em với ông T mong muốn hai bên gia đình thương lượng không muốn giám định tử thi nên cơ quan công an huyện Thiệu Hóa không xác định được cái chết của anh H nên không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Xét căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thấy rằng xét thấy: Tại mục I phần I , Mục II Nghị quyết số 03/2006 ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND TC hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng khi tham gia giao thông ông Tung không có giấy phép lái xe, đi lấn sang phần đường bên trái gây ra tai nạn là vi phạm Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Xét yếu tố tác động của xe ông Tung điều khiển với xe anh Hùng điều khiển thấy rằng, anh H là người khỏe mạnh đang sống bình thường, không có vụ tại nạn xảy ra thì anh H không chết, nguyên nhân dẫn đến cái chết cho anh H là từ vụ tai nạn giao thông do ông T gây ra. Lỗi hoàn toàn do ông T nên ông T phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của chị L về việc yêu cầu ông T bồi thường bồi thường tổng số tiền là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Trong đó tiền cấp dưỡng cho bà Th, cháu Ng và cháu Ph một lần là 30.000.000đ(Ba mươi triệu), tiền bồi thường về tổn thất tinh thần cho chị, cháu Ng, cháu Ph và bà Th một lần là 40.000.000đ(bốn mươi triệu đồng). Xét căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thấy rằng xét thấy: Tại mục I phần 1 , Mục II phần 2 Nghị quyết số 03/2006 ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND TC hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, căn cứ Điều 584, Điều 591, 593 BLDS, yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị L phù hợp pháp luật nên được tòa án chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T phải nộp 3.500.000đ án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày 15/03/2018 ông Lê Văn T trình bày gia đình hoàn cảnh khó khăn là hộ nghèo có xuất trình sổ hộ nghèo, có đơn đề nghị tòa án miễn giảm tiền án phí cho ông. Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12 /2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án.Tòa án miễn tiền nộp án phí cho ông Tung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điểm b Khoản 2 Điểu 227, Điều 229, 244 và Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 591,593 Bộ luật Dân sự; Điểm đ Khoản1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

-Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L yêu cầu ông Tung bồi thường thiệt hại 12.000.000đ tiền mai táng.

-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L: Buộc ông Lê Văn T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng cho chị Lê Thị L số tiền là: 70.000.000đ(Bảy mươi triệu đồng) trong đó gồm:

+ Tiền tiền cấp dưỡng cho bà Th, cháu Ng và cháu Ph một lần là 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng).

+ Tiền bồi thường về tổn thất tinh thần một lần cho bốn người gồm chị L, cháu Ph, cháu Ng, bà Th là 40.000.000đ(bốn mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Khoản 2 Điều 468 BLDS.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Miễn tiền nộp tiền án phí cho ông Lê Văn T.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


116
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về