Bản án 02/2017/KDTM-ST ngày 31/08/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản

TÒA AN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 02/2017/KDTM-ST NGÀY 31/8/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 31 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 02/2017/TLST-KDTM ngày 14 tháng 4 năm 2017, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng về vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA; địa chỉ: 130 PĐL, quận PN, thành phố HCM. Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo văn bản ủy quyền số 20/-DAB ngày 10 tháng 3 năm 2017 và văn bản ủy quyền số 2045/QD-DAB- PC ngày 11/11/2016 của Ngân hàng TMCP ĐA): Ông Bùi Đức T. Địa chỉ: 01 PVĐ, Phường TS, TP. P, tỉnh G. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng K – Sinh năm 1951.

Bà Lê Thị H – Sinh năm: 1957.

Cùng địa chỉ: Thôn CK, xã Đ, huyện M, tỉnh G. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA (viết tắt là Ngân hàng TMCP ĐA) trình bày:

Ngày 15/4/2014, Ngân hàng TMCP ĐA thông qua Ngân hàng TMCP ĐA- Chi nhánh tỉnh G và ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H có ký kết Hợp đồng vay vốn số NC0043/1, cụ thể: Số tiền vay là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng), Lãi suất là 13%/năm, lãi suất quá hạn 19,5%/năm. Thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 15/4/2014 đến ngày 15/4/2015. Mục đích vay tiêu dùng và chăm sóc cà phê.

Khi vay tiền, để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của Hợp đồng vay vốn nêu trên, ông K, bà H đã thế chấp tài sản là bất động sản quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thôn HL 1, xã K, huyện Đ, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 222830 (Vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH01246) do UBND huyện  Đ cấp ngày 21/01/2014 cho ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H bằng Hợp đồng thế chấp bất động sản số NC4539/HĐTC ngày 14 tháng 4 năm 2014. Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi vay, từ ngày 15/4/2014 đến ngày 10/3/2017 ông K, bà H mới chỉ trả được cho Ngân hàng số tiền lãi suất trong hạn 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Từ ngày vay tiền đến kỳ trả nợ gốc theo Hợp đồng vay vốn đã ký, Ngân hàng đã nhiều lần mời ông K, bà H đến làm việc, đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng không đạt kết quả. Ông K, bà H có biểu hiện chây ỳ, kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ và thiếu thiện chí trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H phải trả số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 19.541.677 đồng, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 10/3/2017 là 112.937.500 đồng và toàn bộ số tiền nợ lãi đến ngày Tòa án xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ là 460.754.167 đồng (Trong đó: Nợ gốc 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 19.541.677 đồng và nợ lãi quá hạn đến ngày xét xử 31/8/2017 là 141.212.500 đồng). Trong trường hợp ông K, bà H không trả được số tiền nợ nêu trên, Ngân hàng yêu cầu Tòa án cho phát mãi tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số NC4539/HĐTC ngày 14 tháng 4 năm 2014 để Ngân hàng thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết các văn bản tố tụng để triệu tập bị đơn ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H đến làm việc liên quan đến vụ án nhưng bị đơn cố tình trốn tránh, không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án. Do vậy, hồ sơ không có lời khai của phía bị đơn.

Nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án gồm:

Đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 222830 (Vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH01246) do UBND huyện Đ cấp ngày 21/01/2014 cho ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 14/4/2014; Điều lệ và tổ chức hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA; Quyết định thành lập Chi nhánh G trực thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA ngày 04/11/2013; Quyết định về việc ủy quyền số 20/QĐ-DAB ngày 10/3/2017; Quyết định ủy quyền thường xuyên số 2045/QĐ-DAB-PC ngày 11/11/2016; Quyết định về việc tái bổ nhiệm số 231 ngày 11/10/2016; Hợp đồng vay vốn số NC0043/1 ngày 15/4/2014; Phụ lục hợp đồng kiêm khế ước nhận nợ số NC0043/1; Hợp đồng thế chấp bất động sản số NC 4539/HĐTC ngày 14 tháng 4 năm 2014; Giấy nhận nợ ngày 15/4/2014; Hoạt động khế ước cho vay tín dụng từ ngày 15/4/2014 đến ngày 10/3/2017; Bảng tính lãi hồ sơ vay khách hàng từ ngày 15/4/2014 đến ngày 10/3/2017; Hóa đơn giá trị gia tăng; Phiếu thu ngày 16/4/2014; Phiếu chuyển khoản ngày 16/4/2014; Hoạt động khế ước cho vay tín dụng từ ngày 15/4/2014 đến ngày 31/8/2017; Bảng tính lãi hồ sơ vay khách hàng từ ngày 15/4/2014 đến ngày 31/8/2017; CMND ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H, Sổ hộ khẩu của ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H; Bản tự khai của Ngân hàng Thương mại Cổ phần ĐA ngày 04/5/2017; Đơn yêu cầu về việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ngày 25/5/2017.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được gồm: 02 Biên bản xác minh ngày 14/4/2017; Công văn số 01/CV-TA ngày 29/5/2017 của Toà án nhân dân huyện M; Hợp đồng thông báo - nhắn tin ngày 06/6/2017; 03 Báo Công lý có số từ 44, 45, 46; 02 Hóa đơn giá trị gia tăng;

Tại phiên tòa, đại diện của viện kiểm sát nhân dân huyện M khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP ĐA phù hợp với quy định của pháp luật, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 30, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết.

[2] Ngân hàng TMCP ĐA thông qua Ngân hàng TMCP ĐA - Chi nhánh tỉnh G và ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H có ký kết Hợp đồng vay vốn số NC0043/1, cụ thể: Số tiền vay là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng), Lãi suất là 13%/năm, lãi suất quá hạn là 19,5%/năm. Thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 15/4/2014 đến ngày 15/4/2015. Thanh toán lãi vay vào ngày 15/10/2014 và 15/4/2015. Mục đích vay tiêu dùng và chăm sóc cà phê. Trong ngày 15/4/2014 ông K, bà H đã nhận đủ số tiền vay là 300.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 15/4/2014. Xét việc ký kết Hợp đồng vay vốn số số NC0043/1 ngày 15/4/2014 giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng và các bên tham gia giao dịch tự nguyện nên các hợp đồng nêu trên là hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn đã ký kết, ông K, bà H mới chỉ trả được cho Ngân hàng số tiền lãi suất là 20.000.000 đồng, sau đó không tiếp tục trả nợ và ông K, bà H đã vi phạm hợp đồng. Cụ thể là đến kỳ hạn trả nợ gốc ngày 15/4/2015, ông K, bà H đã không trả được nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K, bà H phải trả toàn bộ số tiền nợ gồm: Nợ gốc 300.000.000 đồng và nợ lãi trong hạn 19.541.677 đồng và nợ lãi quá hạn đến ngày xét xử 31/8/2017 là 141.212.500 đồng. Tổng cộng là 460.754.167 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[3] Khi vay tiền, để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của Hợp đồng vay vốn nêu trên, ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H đã thế chấp tài sản là bất động sản quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thôn HL1, xã K, huyện Đ, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 222830 (Vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH01246) do UBND huyện Đ cấp ngày 21/01/2014 cho ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H bằng Hợp đồng thế chấp bất động sản số NC4539/HĐTC ngày 14 tháng 4 năm 2014. Xét việc ông K, bà H đã dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất để thế chấp cho Ngân hàng là nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bà ông K, bà H. Việc thế chấp tài sản thể hiện ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng; tài sản thế chấp đều được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm, phù hợp hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực. Do đó, thấy rằng yêu cầu của Ngân hàng là trong trường hợp ông K, bà H không trả được nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản đó để thu hồi nợ là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Đối với toàn bộ số tiền lệ phí thông báo thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 2.850.000 đồng, nguyên đơn là người có nghĩa vụ thông báo nên phải chịu toàn bộ chi phí này (Nguyên đơn đã nộp đủ).

[5] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, bị đơn là người có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ tiền án phí  kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều  235 và Điều 273 của BLTTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng Điều 471, Điều 474, Điều 476, Điều 715, Điều 716, Điều 717, Điều 721 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 90, 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP ĐA.

Buộc ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP ĐA số tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng vay vốn số NC0043/1 ký ngày 15/4/2014 là: 460.754.167 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu bảy trăm năm mươi bốn ngàn một trăm sáu mươi bảy đồng) Trong đó: Nợ gốc 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn 19.541.677 đồng (Mười chín triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn sáu trăm bảy mươi bảy đồng) và nợ lãi quá hạn đến ngày xét xử 31/8/2017 là 141.212.500 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm đồng).

Việc tính lãi và cả lãi suất nợ quá hạn đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng phải theo đúng hợp đồng đã ký kết kể từ khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.

Trong trường hợp ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H không trả được nợ gốc và nợ lãi nêu trên cho Ngân hàng TMCP ĐA thì Ngân hàng TMCP ĐA có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản gồm: Quyền sử dụng đất và cAc tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 7, tờ bản đồ số 92, diện tích 28473,0 m2  tại thôn HL 1, xã K, huyện Đ, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số BT 222830 (Vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH01246) do UBND huyện Đ cấp ngày 21/01/2014 cho ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H (Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số NC4539/HĐTC ngày 14 tháng 4 năm 2014) để thu hồi nợ.

Về án phí: Buộc ông Nguyễn Trọng K, bà Lê Thị H phải chịu toàn bộ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 22.430.167 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm ba ngàn một trăm sáu mươi bảy đồng); Ngân hàng TMCP ĐA không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP ĐA số tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là: 21.290.200 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm chín mươi nghìn hai trăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004732 ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh G.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản  hoặc bản án được niêm yết./.


198
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về