Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 05/01/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 05 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 254/2020/TLST –HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2020/QĐST – HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2020. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Thị M - Sinh năm 1972 Địa chỉ: Thôn Thịnh S, xã Cam Thịnh T, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt;

2. Bị đơn: Ông Mang Gi - Sinh năm: 1974 Địa chỉ: Thôn Thịnh S, xã Cam Thịnh T, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 16/9/2020, bản tự khai ngày 23/11/2020, các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Thị M trình bày: Nguyên đơn và bị đơn ông Mang Gi tự tìm hiểu và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn năm 2011 trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và được UBND xã Cam Thịnh T cấp giấy Chứng nhận kết hôn số: 03, quyển số 01 ngày 06 tháng 01 năm 2011.

Quá trình chung sống: Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có với nhau 04 đứa con chung. Tuy nhiên, càng về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân hai vợ chồng hay kình cãi, không có tiếng nói chung. Hiện tại, hai vợ chồng đã sống ly thân. Do vậy, bản thân nguyên đơn nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, Cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn ông Mang Gi.

Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn ông Mang Gi có 04 con chung là Mang Đ, sinh ngày 10/5/1992; Mang Ng, sinh ngày 20/7/1994; Mang L, sinh ngày 23/10/2002 và cháu Thị Kim L, sinh ngày 24/7/2010. Nếu ly hôn nguyên đơn đề nghị Tòa án giao con cho nguyên đơn trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Thị Kim L sinh, ngày 24/7/2010 đến tuổi trưởng thành, tại phiên tòa, không yêu cầu ông Mang Gi phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Mang Gi: Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh đã tiến hành lập biên bản lấy lời khai ngày 23/11/2020 bị đơn và bà Thị M tự tìm hiểu và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn năm 2011 trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và được UBND xã Cam Thịnh T cấp giấy Chứng nhận kết hôn số: 03, quyển số 01 ngày 06 tháng 01 năm 2011.

Quá trình chung sống: Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có với nhau 04 đứa con chung. Tuy nhiên, càng về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân hai vợ chồng hay kình cãi, không có tiếng nói chung. Hiện tại, hai vợ chồng đã sống ly thân 02 năm nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên, bản thân bị đơn nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng vẫn có thể hàn gắn được. Vì vậy, bà Thị M yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh giải quyết ly hôn với bị đơn, bị đơn không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 04 con chung là Mang Đ, sinh ngày 10/5/1992; Mang Ng, sinh ngày 20/7/1994; Mang L, sinh ngày 23/10/2002 và cháu Thị Kim L, sinh ngày 24/7/2010. Vì bị đơn không muốn ly hôn nên không có ý kiến về con chung và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Thị M xin ly hôn và nuôi con chung đối với bị đơn ông Mang Gi. Về cấp dưỡng nuôi con, tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; Ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Cam Thịnh T cấp giấy Chứng nhận kết hôn số: 03, quyển số 01 ngày 06 tháng 01 năm 2011. Xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2] Quá trình chung sống: Trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên đơn cho rằng bị đơn bỏ bê việc gia đình, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên xúc phạm nguyên đơn, cuộc sống gia đình luôn luôn căng thẳng, nguyên đơn đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng bị đơn vẫn không thay đổi, nguyên đơn khẳng định tình cảm vợ chồng không còn; Nguyên đơn và bị đơn đã không sống chung từ cuối năm 2018 cho đến nay. Tại phiên tòa, bị đơn khẳng định vẫn còn tình cảm với nguyên đơn nên không đồng ý về việc ly hôn. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn của nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, có kéo dài để sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.

[3] Về con chung: Nguyên đơn, bị đơn xác định có 04 (bốn) con chung chung là là Mang Đ, sinh ngày 10/5/1992; Mang Ng, sinh ngày 20/7/1994; Mang L, sinh ngày 23/10/2002 và cháu Thị Kim L, sinh ngày 24/7/2010. Đối với 03 con đầu Mang Đ, Mang Ng và Mang L đã trưởng thành nên không yêu cầu về chăm sóc nuôi con. Đối với Thị Kim L, sinh 24/7/2010 nguyên đơn xin trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Tại phiên tòa, Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn ông Mang Gi phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối bị đơn không muốn ly hôn nên không có ý kiến về con chung và cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Nguyên đơn chứng minh được có công ăn, việc làm ổn định và có nơi ở đảm bảo cho cuộc sống của cháu Thị Kim L, nay nguyên đơn mong muốn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Đồng thời, nguyện vọng của cháu Thị Kim L cũng mong muốn ở với mẹ là bà Thị M. Đối với bị đơn không muốn ly hôn nên không có ý kiến con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận giao cho nguyên đơn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thị Kim L, sinh 24/7/2010 đến tuổi trưởng thành, ông Mang Gi không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

[5] Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho bà Thị M được ly hôn với ông Mang Gi.

2. Về con chung: Giao cháu Thị Kim L, sinh 24/7/2010 cho nguyên đơn trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bị đơn ông Mang Gi không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số AA/2019/0000888 ngày 20 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Như vậy, nguyên đơn đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

* Quy định: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 05/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về