Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 04/01/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 04/01/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 04 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:468/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Mai L, sinh năm: 1982;

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Chị L có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 9 năm 2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai L trình bày:

Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn vào năm 1997. Anh chị tự tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Sau khi cưới vợ chồng chị L sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường hay cãi vã do anh T nhiều lần gây nợ nần, chị L khuyên nhủ nhưng anh T không nghe. Ngoài ra, anh T thường hay tra tấn tinh thần và có những lời lẽ xúc phạm nặng nề với chị. Anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên biết anh chị bất hòa đã khuyên nhủ, hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị L, anh T đã tìm cách tháo gỡ mâu thẫn nhưng không có kết quả. Nay chị L xác định tình cảm không còn, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với anh T được nữa, việc tiếp tục sống chung chỉ làm khổ cả hai nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Duy Khánh, sinh ngày 26/6/1999 và Nguyễn Quỳnh Y, sinh ngày 12/10/2007. Hiện nay Duy Khánh đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Y, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: vợ chồng chị có 01 căn nhà tường cấp 4, địa chỉ: 115C, ấp 5 (An Phú), xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh chị tự thỏa thuận về tài sản chung là căn nhà này nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 22/10/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Một số thông tin về hôn nhân của anh chị, chị L trình bày trên là đúng. Riêng thông tin về việc kết hôn, anh chị kết hôn năm 1998. Vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì. Anh T, chị L ly thân khoảng 04 tháng nay do chị L tự ý bỏ nhà đi. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, không ai biết đến ai. Hiện nay anh T vẫn còn tình cảm với chị L nhưng vì chị L cương quyết ly hôn, không thể níu kéo được nên anh đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là Nguyễn Duy Khánh, sinh ngày 26/6/1999 và Nguyễn Quỳnh Y, sinh ngày 12/10/2007. Cháu Khánh đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T đồng ý cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: anh chị có 01 căn nhà tường cấp 4 như chị L trình bày. Anh T, chị L tự thỏa thuận về tài sản chung là căn nhà này nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho anh sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 08/9/2020, chị Nguyễn Thị Mai L khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai L có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị L:

Chị L, anh T tự nguyện kết hôn vào năm 1997 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/02/1997.

Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường hay cãi vã do anh T nhiều lần gây nợ nần, chị L khuyên nhủ nhưng anh T không nghe. Ngoài ra, anh T thường hay tra tấn tinh thần và có những lời lẽ xúc phạm nặng nề với chị. Khi xảy ra mâu thuẫn, chị L, anh T nhiều lần tìm cách tháo gỡ mâu thuẫn, gia đình hai bên đã khuyên nhủ hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Từ năm 2019, chị L, anh T ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân cả hai sống mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, tình hình sức khỏe, cuộc sống, sinh hoạt của nhau không ai biết đến ai. Chị L xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Đối với yêu cầu này của chị L, anh T đồng ý. Điều này có cơ sở khẳng định tình trạng của vợ chồng chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: anh T, chị L có 02 con chung là Nguyễn Duy K, sinh ngày 26/6/1999 và Nguyễn Quỳnh Y, sinh ngày 12/10/2007. Cháu K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Y hiện đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu Y; cháu Y có mong muốn được sống với chị L. Anh T cũng đồng ý cho chị L được tiếp tục nuôi cháu Y nên cần giao cháu Y cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

[4] Về cấp dưỡng: chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết chị L có quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về chia tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Chị L, anh T không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

[7] Về án phí: chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mai L xin ly hôn đối với anh Nguyễn Văn T;

* Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Mai L với anh Nguyễn Văn T.

* Về nuôi con chung: có 02 con chung là Nguyễn Duy K, sinh ngày 26/6/1999 và Nguyễn Quỳnh Y, sinh ngày 12/10/2007. Nguyễn Duy K, sinh ngày 26/6/1999 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giao cháu Nguyễn Quỳnh Y, sinh ngày 12/10/2007 cho chị Nguyễn Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận chị Nguyễn Thị Mai L không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

* Về chia tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị L, anh T không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị Mai L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001415 ngày 29/9/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


20
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 04/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về