Bản án 01/2020/HS-ST ngày 20/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 01/2020/HS-ST NGÀY 20/02/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh P (tên gọi khác: An), sinh năm 1986 tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp P , xã P , huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị Ngọc Y.

Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số 47/2017/HS-ST ngày 14/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành án xong vào ngày 30/9/2018, bị cáo chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2019 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: 1/ Anh Trần Tấn C , sinh năm 1984 (vắng mặt) 2/ Chị Võ Thị Ngọc M , sinh năm 1979 (vắng mặt) Cùng nơi cư trú: ấp P , xã P , huyện T, tỉnh Vĩnh Long. - Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1994 (vắng mặt) Nơi cư trú: ấp P , xã P , huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 1982 (vắng mặt) Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để mua ma túy sử dụng nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/11/2019 Nguyễn Mạnh P đi bộ từ nhà đến khu vực ấp P , xã P , huyện T, tỉnh Vĩnh Long để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi P đi đến đoạn đường đal trước nhà chị Võ Thị Ngọc M , sinh năm 1979 ngụ ấp P , xã P , huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì P quan sát thấy trong sân nhà chị M có một xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ, đen, biển số 64E1-269.68 do chị M đứng tên chủ sở hữu, chìa khóa xe vẫn còn cắm trên ổ khóa. P lén lút lại gần xe mô tô trên dẫn ra đường đal thì bị chị M phát hiện và truy hô. Lúc này, P bỏ lại xe mô tô tại hiện trường và bỏ chạy ra đường tỉnh 908 thì bị người dân truy đuổi bắt được giao Công an xã P .

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ, đen biển số 64E1-269.68.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 221/KL.ĐGTS ngày 13/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 64E1-269.68 nhãn hiệu YAMAHA, Sirius màu đỏ, đen mua năm 2016 trị giá 10.300.000 đồng.

- Xử lý vật chứng: Ngày 22/11/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chị Võ Thị Ngọc M 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ, đen biển số 64E1-269.68.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Thị Ngọc M đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ, đen biển số 64E1-269.68, chị M , anh Trần Tấn Ckhông có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSTB ngày 08/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Mạnh P thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Trần Tấn C, Võ Thị Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa, tại biên bản ghi lời khai trình bày về trách nhiệm dân sự anh, chị đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu gì thêm.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạnh P về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh P mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình đã trả lại cho bị hại xong nên không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/11/2019, tại nhà chị Võ Thị Ngọc M, ngụ ấp P , xã P , huyện T, tỉnh Vĩnh Long bị cáo Nguyễn Mạnh P đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ, đen biển số 64E1-269.68 của chị Võ Thị Ngọc M trị giá 10.300.000 đồng (Mười triệu ba trăm ngàn đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là thanh niên, có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật hình sự trừng phạt nhưng vẫn thực hiện. Bị cáo với thái độ thích thụ hưởng, lười lao động để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi đó thể hiện ý thức xem thường tài sản của người khác và xem thường sự trừng phạt của pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: [2.3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo P có 01 tiền án. Tại Bản án số 47/2017/HS-ST ngày 14/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành án xong vào ngày 30/9/2018, bị cáo chưa được xóa án tích nay lại tái phạm đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[2.4] Về xử lý vật chứng: Xét trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình đã trả lại cho bị hại đúng quy định của pháp luật nên không xem xét giải quyết.

[2.5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[2.6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo P phải nộp 200.000 đồng.

[3] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm h, s khoản 1 Điều 51;

điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh P 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2020/HS-ST ngày 20/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:01/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Bình - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về