Bản án 01/2020/HSST ngày 02/01/2020 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 01/2020/HSST NGÀY 02/01/2020 VỀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 02 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2019//TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo: Đặng Văn L, sinh ngày 07-9-1974, tại: Xã T, huyện H, tỉnh T.

Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh T; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M và bà Đặng Thị M; có vợ là Đỗ Thị Thùy D (Đỗ Thị D) và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án: Bản án số 15/2018/HSST ngày 13-3-2018, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Văn L 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11-9-2019 đến ngày 14-9-2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Tiến H, sinh năm 1980

2. Anh Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1986

Đều cư trú: Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ ngày 11-9-2019, tại đoạn đường ĐH61 trước cửa hiệu thuốc tân dược thuộc địa phận Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh T. Tổ công tác Công an huyện Hưng Hà phát hiện bắt quả tang bị cáo Đặng Văn L, có hành vi cất giấu 01 gói ma túy loại (Hêrôin), có đặc điểm: bên ngoài gói ni lon trong suốt , bên trong là giấy tráng kim màu trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Bị cáo L khai nhận đó là ma túy loại (Heroin) mục đích cất giấu để sử dụng vì bản thân nghiện ma túy. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói ma túy trên trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Tiến H và anh Nguyễn Tiến Q. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Đặng Văn L, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Bản kết luận giám định số 368/KLGĐ-PC09 ngày 13-9-2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin (heroine) có khối lượng 0,2072 gam (không phẩy hai nghìn không trăm bảy hai gam)”. Heroine STT: 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 97/CT-VKSHH ngày 29-11-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đặng Văn L ra trước Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo Đặng Văn L khai nhận: Vào hồi 18 giờ ngày 11-9-2011, bị cáo đang ở nhà tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh T, thì anh T là bạn nghiện ma túy đi xe máy đến rủ bị cáo đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, bị cáo đồng ý. Sau đó, anh T chở bị cáo đến khu vực Bưu điện thị trấn H, huyện H và bảo bị cáo đứng chờ còn anh T một mình đi mua ma túy, khoảng 30 phút sau anh T quay lại đón bị cáo đi tìm nơi sử dụng ma túy. Trên đường đi, anh T đã đưa cho bị cáo một gói nilon trong suốt, bị cáo biết đó là ma túy nên bị cáo cho vào miệng mục đích cất giấu. Khi đi đến hiệu thuốc tân dược ven đường thuộc địa phận Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh T, anh T dừng xe và bảo bị cáo vào mua xi lanh để sử dụng ma túy, bị cáo xuống xe và đi vào cửa hiệu thuốc thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bị cáo cáo đã nhả gói ma túy ngậm trong miệng xuống đất còn anh T lái xe bỏ chạy, Công an yêu cầu bị cáo nhặt gói ma túy lên để kiểm tra, sau đó thu giữ và niêm phong gói ma túy. Bị cáo không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể của anh T. Việc anh T rủ bị cáo đi mua ma túy và đưa gói ma túy cho bị cáo không có ai chứng kiến.

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Văn L như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11 -9-2019; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 4 7 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy thu của bị cáo Đặng Văn L là vật chứng của vụ án, sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 368/KLGĐ-PC09 ngày 13-9-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận thấy hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Đặng Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà lập ngày 11-9-2019 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh T; bản kết luận giám định số 368/KLGĐ - PC09 ngày 13-9-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; lời khai của những người làm chứng: Anh Nguyễn Tiến H và anh Nguyễn Tiến Q. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ ngày 11-9-2019 tại đoạn đường ĐH61, trước cửa hiệu thuốc tân dược thuộc địa phận Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh T, bị cáo Đặng Văn L đã có hành vi tàng trữ 01 gói hêrôin có khối lượng 0,2072 gam (không phẩy hai nghìn không trăm bảy hai gam) mục đích sử dụng bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Văn L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đặng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

......................................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, hủy hoại t rực tiếp sức khỏe của chính bản thân bị cáo và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác; bị cáo có một tiền án nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự ; trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng (là Hội viên chất độc da cam) nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng...trái phép chất ma túy nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội nghiêm trọng do cố ý, do đó cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung. [5] Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có mục đích v ụ lợi, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà quản l ý của bị cáo Đặng Văn L, sau khi giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 368/ KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Căn cứ vào lời khai của bị cáo Đặng Văn L, gói ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra thu ngày 11-9-2019 là của một người bạn tên là T đưa cho nhưng bị cáo không biết họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể của anh T, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[8] Về án phí: Bị cáo Đặng Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11-9-2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 0,1863 gam (Không phẩy một nghìn tám trăm sáu mươi ba gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Đặng Văn L trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 368/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-11-2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án . Bị cáo Đặng Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2020/HSST ngày 02/01/2020 về tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:01/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hưng Hà - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về