Bản án 01/2020/HS-PT ngày 08/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 01/2020/HS-PT NGÀY 08/01/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 197/2019/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Lê HB do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 257/2019/HS-ST ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Lê HB, sinh năm 1983 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: 16/35 YS, phường VT, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh B (đã mất) và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1961; có vợ là Nguyễn Thị Thùy Tr (đã ly hôn), có một con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28 tháng 02 năm 2019, Nguyễn Lê HB điều khiển xe mô tô hiệu SYM Attila, biển kiểm soát 79D1-199.30 lưu thông trên đường QT thì thấy xe mô tô hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 79N2-154.13 của chị Trần Thị L đang dựng trước nhà số 32/4 đường QT, phường VT, thành phố NT và ở ngăn đựng đồ dùng phía trước xe có để 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Oppo A7-64G màu vàng, không có người trông giữ nên B nảy sinh ý định trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài và trả nợ. B điều khiển xe của mình đến cạnh xe của chị L để lấy chiếc điện thoại trên. Khoảng 21 giờ cùng ngày, B mang chiếc điện thoại vừa trộm cắp của chị L đến bán cho cửa hàng điện thoại TK ở địa chỉ: 16B đường THT, phường TL, thành phố NT với số tiền 2.800.000 đồng rồi mang về nhà cất giữ. Sau khi mất tài sản, chị L đến cơ quan Công an trình báo.

Qua điều tra, ngày 01/3/2019 cơ quan Công an đã đưa B về trụ sở làm việc, B đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình và giao nộp số tiền 2.800.000 đồng có được do bán điện thoại của chị L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 104/HĐĐG ngày 11/3/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố NT kết luận: Một điện thoại di động hiệu Oppo A7-64G trị giá 5.160.600 đồng (Năm triệu một trăm sáu mươi nghìn sáu trăm đồng).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 257/2019/HS-ST ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã quyết định:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lê HB.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê HB 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 31 tháng 10 năm 2019, bị cáo Nguyễn Lê HB có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm: Giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo Bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tính hợp pháp của kháng cáo:

Đơn kháng cáo đề ngày 31/10/2019, được bị cáo nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang vào cùng ngày. Theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lê HB khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để xác định rằng: Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 28/02/2019, bị cáo Nguyễn Lê HB lợi dụng tài sản để trước nhà số 32/4 đường QT, phường VT, thành phố NT không có người trông coi nên đã lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A7-64G màu vàng, trị giá 5.160.600đ của chị Trần Thị L. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

- Đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi xét xử, tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo là thiếu sót, không phù hợp với thiệt hại thực tế của vụ án, nhưng đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Người phạm tội tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo.

- Đối với nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo: Trong vụ án, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo là nhân dân lao động, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận phần kháng cáo này của bị cáo: Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lê HB không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lê HB, sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê HB 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Lê HB cho Ủy ban nhân dân phường VT, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị cáo Nguyễn Lê HB không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2020/HS-PT ngày 08/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:01/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về