Bản án 01/2019/HS-ST ngày 09/01/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 01/2019/HS-ST NGÀY 09/01/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 09 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2018/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo thủ tục rút gọn số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và Tên: Trịnh Thị H, (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1974, tại N - Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT: phố P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: số nhà 22, ngõ 175, đường L, phố K, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trịnh Quốc V và bà Lê Thị T; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

2. Họ và Tên: Hoàng Anh T, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1996, tại H - Ninh Bình; Trú tại: thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn X và bà Đồng Thị L; Vợ: Tống Khánh L; Con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

3. Họ và Tên: Phạm Văn T1, (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1988, tại Ninh Bình; Trú tại: thôn P, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn H và bà Điền Thị B; Vợ: Phạm Thị C; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

4. Họ và Tên: Đàm Viết T2, (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1980, tại Ninh Bình; Trú tại: thôn C, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đàm Xuân L và bà Hoàng Thị K; Vợ: Nguyễn Thị T; Con: Có 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

5. Họ và Tên: Bùi Trung K, (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1990, tại Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT: thôn Í, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: đội 2 thôn B, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Chí T và bà Vũ Thị L; Vợ: Đỗ Thị T; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

Người làm chứng: Chị Lê Thị S, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Thị H hiện đang thuê lại nhà nghỉ Đ có địa chỉ tại số 22, ngõ 175, đường L, phố K, phường N, thành phố N của ông Nguyễn Văn N sinh năm 1964 trú tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình làm chủ sở hữu để kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ. H có mối quan hệ quen biết xã hội với Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K là nhân viên phục vụ của khách sạn H ở phường N, thành phố N. Thỉnh thoảng T1, T, T2, K vẫn đến nhà nghỉ của H để chơi và ăn uống với H sau đó có đánh bạc ăn tiền với nhau. Khoảng 12 giờ ngày 30 tháng 11 năm 2018 sau khi hết giờ làm, Hoàng Anh T và Phạm Văn T1 đi bộ đến nhà nghỉ Đ để chơi với H, khoảng 30 phút sau thì Đàm Viết T2 đi taxi đến nhà nghỉ Đ rồi ngồi uống nước cùng H, T1 và T. Trong khi ngồi uống nước thì H nảy sinh ý định đánh bạc ăn tiền nên đã lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân ở dưới gầm bàn uống nước có sẵn từ trước và đứng dậy rủ T, T1 và T2 đánh bạc ăn tiền. Cả ba đồng ý sau đó đứng dậy đi theo H lên phòng thờ tầng 4 của nhà nghỉ Đ để đánh bạc, cả hội thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Các đối tượng quy ước hình thức chơi như sau: liêng là ba quân bài liên tiếp nhau như 6-7-8; sáp là ba quân bài giống nhau như 6-6-6; ảnh là ba quân bài đầu người như Q- Q-K; bắt đầu ván bài thì mỗi người chơi phải đặt tiền gà là 10.000 đồng, sau đó mỗi người chơi được chia ba lá bài nếu ai thấy bài của mình điểm cao thì sẽ theo hoặc tố, mỗi lần tố tối đa 100.000 đồng, sau khi đặt cược ai có điểm hoặc giá trị lá bài cao hơn sẽ thắng, người thắng mỗi ván sẽ được nhận tất cả số tiền gà và số tiền người chơi đã đặt. Trước khi đánh bạc H có 2.100.000 đồng, T có 1.200.000 đồng, T1 có 2.600.000 đồng, T2 có 880.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. H, T1, T, T2 đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì Bùi Trung K đến nhà nghỉ Đ, K thấy cả hội đang đánh liêng ăn tiền nên xin vào chơi cùng. Trước khi đánh bạc K có 2.900.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác đội cảnh sát hình sự Công an thành phố N làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; số tiền gà giữa chiếu là 80.000 đồng. Thu tại vị trí ngồi đánh bạc của Trịnh Thị H số tiền 360.000 đồng; 01 ví da màu hồng bên trong ví có số tiền 400.000 đồng; 1.000.000 đồng trong áo ngực bên trái, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; thu của Hoàng Anh T số tiền 1.010.000 đồng dưới chiếu, 01 ví da màu đen tại vị trí tầng 1 ngoài cổng nhà nghỉ Đ trong ví có 1.600.000 đồng do khi tổ công tác vào bắt quả tang T vứt qua cửa phòng thờ tầng 4 của nhà nghỉ xuống đất; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105; thu của Bùi Trung K số tiền 90.000 đồng dưới chiếu, 01 ví da trong túi quần trước bên trái trong ví có 1.500.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280; thu của Đàm Viết T2 số tiền 70.000 đồng dưới chiếu, 530.000 đồng trong túi quần trước bên trái, 01 ví da màu đen ở túi quần sau bên phải trong ví có số tiền 700.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105; thu của Phạm Văn T1 số tiền 340.000 đồng dưới chiếu; 01 ví da màu đen có chữ Toma ở vị trí bên hông trái nhà nghỉ Đ do T1 vứt từ trên tầng 4 nhà nghỉ xuống đất, bên trong ví có số tiền 2.000.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã chứng minh số tiền các bị can Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K sử dụng vào việc đánh bạc là 9.680.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Quyết định truy tố số 02/QĐ-VKS ngày 25/12/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố các bị cáo Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K đều về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”; Đề nghị Chủ tọa phiên tòa:

* Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS, xử phạt Trịnh Thị H từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; Thời hạn tính từ ngày UBND phường N, thành phố Ninh Binh, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản án. (được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 là 01 ngày được quy đổi thành 03 ngày cải tạo không giam giữ); giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố Ninh Binh, tỉnh Ninh Bình và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án; Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo là 5%/ tháng; phạt bổ sung bị cáo từ 12 đến 15 triệu đồng;

* Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS:

- Xử phạt Hoàng Anh T từ 25 đến 27 triệu đồng.

- Xử phạt Phạm Văn T1 từ 25 đến 27 triệu đồng.

- Xử phạt Đàm Viết T2 từ 25 đến 27 triệu đồng.

- Xử phạt Bùi Trung K từ 20 đến 22 triệu đồng.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 9.680.000 đồng;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng đã thu giữ; như vậy có đủ căn cứ kết luận từ khoảng 12 giờ 30 phút đến 16 giờ ngày 30/11/2018, tại phòng thờ tầng 4 của nhà nghỉ Đ (do Trịnh Thị H hiện đang thuê lại của ông Nguyễn Văn N) có địa chỉ tại số 22, ngõ 175, đường L, phố K, phường N, thành phố N. Các bị cáo Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K đã có hành vi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân đánh bạc với nhau bằng hình thức “đánh Liêng” được thua bằng tiền bị bắt quả tang với số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.680.000 đồng;

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định, thực hiện hành vi do lỗi cố ý. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại quyết định truy tố, lời luận tội, chứng cứ buộc tội các bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Đây là vụ án có đông bị cáo tham gia nhưng không có sự bàn bạc, phân công từ trước do vậy chỉ là đồng phạm giản đơn. Để quyết định hình phạt tương xứng với từng bị cáo thấy rằng:

Trong vụ án này bị cáo Trịnh Thị H là người khởi sướng, chuẩn bị công cụ (bộ bài tú lơ khơ 52 quân); vì vậy bị cáo giữ vai trò đầu trong vụ án.

Các bị cáo Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2 mặc dù sử dụng số tiền mang theo để đánh bạc khác nhau nhưng thời gian tham gia đánh bạc như nhau, đồng thời cùng với bị cáo H thống nhất đề ra mức độ cá cược. Do đó các bị cáo đều có vai trò như nhau sau bị cáo H;

Đối với Bùi Trung K là người đến sau không tham gia thống nhất đề ra mức độ cá cược với các bị cáo; vì vậy bị cáo có vai trò sau cùng.

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, xét thấy:

Đối với bị cáo Trịnh Thị H cần áp dụng Điều 36 BLHS giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú để giám sát giáo dục cải tạo, để bị cáo có cơ hội cải tạo, làm lại cuộc đời, sống có ích cho gia đình và xã hội. Ngoài ra theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLHS bị cáo còn bị khấu trừ thu nhập từ 5% dến 20% để sung quỹ nhà nước; vì vậy, quyết định áp dụng khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian chấp hành án đối với bị cáo là 5%. Bị cáo đã bị tạm giữ 01 ngày từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 vì vậy khi quyết định hình phạt cần trừ thời gian đã bị tạm giữ cho bị cáo theo tỷ lệ cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

Đối với các bị cáo Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K cần áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; Do đó đối với bị cáo Huyền ngoài hình phạt chính cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền từ mười triệu đồng đến mười lăm triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước. Đối với các bị cáo T, T1, T2 và K do bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền vì vậy quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[2]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 ví da màu hồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung của Trịnh Thị H; 01 ví da màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 thu của Hoàng Anh T; 01 ví da màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 thu của Bùi Trung K; 01 ví da màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 thu của Đàm Viết T2; 01 ví da màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s thu của Phạm Văn T1 không liên quan đến vụ án nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố N đã trả lại cho H, T, K, T2 và T1 là có căn cứ và phù hợp.

- Đối với số tiền 9.680.000 đồng thu giữ của các bị cáo sử dụng để đánh bạc; do vậy căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;

- 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ các bị cáo đánh bạc; do vậy căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy. [3] Các vấn đề khác:

- Đối với ông Nguyễn Văn N là chủ nhà nghỉ Đ cho Trịnh Thị H thuê lại để kinh doanh nhưng không biết Huyền cùng các đối tượng đánh bạc tại nhà nghỉ của mình vì vậy không phải chịu trách nhiệm trong vụ án này.

- Quá trình điều tra các bị can Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K khai nhận trước ngày bị bắt thỉnh thoảng có đánh bạc cùng nhau tại nhà nghỉ Đ, tuy nhiên các bị can đều không nhớ ngày nào đánh bạc và số tiền đánh bạc cụ thể là bao nhiêu nên không có căn cứ để xử lý đối với Huyền, Tuấn, Tuân, Thắng và Kiên.

[4]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS đối với bị cáo Trịnh Thị H; Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2 và Bùi Trung K.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K đều phạm tội “Đánh bạc”.

1.1. Xử phạt: Trịnh Thị H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/11/2018 đến ngày 01/12/2018 là 01 ngày quy đổi thành 03 ngày cải tạo không giam giữ); Bị cáo còn phải chấp hành là 11 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo H cho UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo; Trong thời gian chấp hành án bị cáo còn bị khấu trừ thu nhập là 5%; Phạt bổ sung bị cáo 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng);

1.2. Xử phạt Hoàng Anh T 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

1.3. Xử phạt Phạm Văn T1 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

1.4. Xử phạt Đàm Viết T2 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

1.5. Xử phạt Bùi Trung K 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

2.1. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.680.000; (Số tiền 9.680.000đ hiện đang ở tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N tại kho bạc Nhà nước thành phố N, theo uỷ nhiệm chi lập ngày 07/01/2019).

2.2. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ. (Đặc điểm, chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu án phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trịnh Thị H, Hoàng Anh T, Phạm Văn T1, Đàm Viết T2, Bùi Trung K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


88
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HS-ST ngày 09/01/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:01/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về