Bản án 01/2019/HNGĐ ngày 15/01/2019 về tranh chấp trợ cấp nuôi con chung sau ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH – TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 01/2019/HNGĐ NGÀY 15/01/2019 VỀ TRANH CHẤP TRỢ CẤP NUÔI CON CHUNG SAU LY HÔN

Ngày 15/01/2019 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án HNGĐ thụ lý số : 235/HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2018 theo quyết định đ ưa vụ án ra xét xử số: 04/QĐST- HNGĐ ngày 04/01/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị A, sinh năm1988(Có mặt tại phiên tòa). Trú tại: Xóm P, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1982 ( Có mặt tại phiên tòa). Trú tại: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN THẤY

- Chị Lê Thị A trình bày: Tại quyết định thuận tình ly hôn số 165 ngày 15/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị với anh Nguyễn Văn B. Chị trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu Nguyễn Thị L, sinh 15/01/2007 và cháu Nguyễn Văn T, sinh 27/10/2008, tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con chung cho anh B. Nay do phải một mình nuôi con chung nên rất vất vả, các con của chị hiện học hành rất tốn kem, mà thu nhập của chị lại có hạn. Nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình giải quyết buộc anh B phải có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi cháu L, cháu T tròn 18 tuổi.

- Anh Nguyễn Văn B trình bày: Ngày 16/11/2017 Tòa án nhân dân huyện Phú Bình công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh với chị Lê Thị A, Tòa án giao cho chị Anh nuôi con chung gồm cháu Nguyễn Thị L, sinh 15/01/2007 và cháu Nguyễn Văn T, sinh 27/10/2008, tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con chung cho anh. Nay chị Lê Thị A yêu cầu anh phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng chị mỗi tháng là 2.000.000đ đến khi cháu L, cháu T tròn 18 tuổi thì anh không đồng ý đóng góp. Nếu chị Lê Thị A không nuôi được các con, anh xin Tòa án giao cháu Nguyễn Thị L, cháu Nguyễn Văn T cho anh nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị Anh đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Do đó phải đưa vụ án ra xét xử công khai ngày hôm nay

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xác định trong vụ án này chị Lê Thị A là nguyên đơn, anh Nguyễn Văn B là bị đơn.

[2]. Về nội dung: Đây là vụ án về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3]. Về tài liệu chứng cứ do chị Lê Thị A nộp: 01 đơn khởi kiện của chị Lê Thị A đối với anh Nguyễn Văn B về việc yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung; 01 quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 165 ngày 16/11/2017; 01 chứng minh thư nhân dân của chị Anh; 01 sổ hộ khẩu của gia đình chị Anh; 02 giấy khai sinh con của chị Anh với anh B; 02 giấy xác nhận của hiệu trưởng trường THCS xã N; 01 giấy xác nhận của Hiệu trưởng tiểu học xã N; 03 phiếu giao hàng tháng 9,10,11 năm 2018. Anh Nguyễn Văn B không nộp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

[4]. Sau khi ly hôn, chị Lê Thị A trực tiếp nuôi 02 con chung của chị với anh Nguyễn Văn B: Cháu Nguyễn Thị L, sinh 15/01/2007 và cháu Nguyễn Văn T, sinh 27/10/2008, tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con chung cho anh. Nay do thu nhập của chị Lê Thị A không đều, hai con của chị ngày một lớn, việc chi tiêu để nuôi hai con đối với chị rất vất vả, nên chị yêu cầu anh B phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng là 2.000.000đ. Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị Lê Thị A yêu cầu anh B phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi một con chung cùng chị.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị A giao nộp các chứng cứ gồm: Giấy xác nhận của Hiệu trưởng THCS và của Hiệu trưởng tiểu học N về việc thu tiền học phí của chị Anh đóng cho hai con; tiền mua sữa cho các cháu hàng tháng. Anh Nguyễn Văn B xác định từ sau khi ly hôn với chị Lê Thị A, anh không đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, vì anh xác định tại giai đoạn ly hôn, chị Anh đã tuyên bố không yêu cầu anh đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Do đó anh mới không đóng tiền nuôi con chung cho chị Anh.

Qua các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của chị Lê Thị A là phù hợp với thực tế, cần phải buộc anh B phải có trách nhiệm góp tiền nuôi con chung cùng với chị là hoàn toàn có căn cứ. Tuy nhiên HĐXX thấy anh chị có hai con chung, do đó mỗi anh chị phải có trách nhiệm nuôi một cháu, cần phải buộc anh B đóng tiền nuôi cháu Nguyễn Văn T, sinh 27/10/2008 cho đến khi cháu T tròn 18 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án, chị Anh yêu cầu anh B phải có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị mỗi tháng là 2.000.000đ. Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị Anh thay đổi mức yêu cầu cấp dưỡng đối với anh B, chị yêu cầu anh B có trách nhiệm đóng góp cùng chị mỗi tháng là 1.000.000đ để nuôi cháu T. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của chị là tự nguyện, phù hợp với thực tế. Nên chấp nhận yêu cầu này của chị Lê Thị A. Buộc anh B phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu T cùng chị Anh mỗi tháng là 1.000.000đ(Một triệu đồng), cho đến khi cháu T tròn 18 tuổi

Đối với yêu cầu của anh B về việc anh xin được nuôi con. Hội đồng xét xử thấy đây là một quan hệ pháp luật khác, nếu sau này anh B muốn nuôi con chung, anh phải làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

- Về án phí: Anh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Về áp dụng điều luật: Căn cứ vào các Điều 28, 35, 146; 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 82, 83, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị A đối với anh Nguyễn Văn B về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Buộc anh B phải có trách nhiệm đóng góp 1.000.000đ/tháng (một triệu đồng) tiền cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Văn T, sinh 27/10/2008 cho chị Lê Thị A, đến khi cháu T tròn 18 tuổi, hoặc có thay đổi khác. Thời gian đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung được tính từ tháng 01/2019.

[2].Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn B phải nộp 300.000 đồng án phí DSST, nộp vào ngân sách nhà nước.

[4]. Quyền kháng cáo của các đương sự: Án xét xử sơ thẩm có mặt hai bên đương sự. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


121
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HNGĐ ngày 15/01/2019 về tranh chấp trợ cấp nuôi con chung sau ly hôn

Số hiệu:01/2019/HNGĐ
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Bình - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về