Bản án 01/2018/KDTM-PT ngày 30/01/2018 về tranh chấp hợp đồng xây dựng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 01/2018/KDTM-PT NGÀY 30/01/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

Ngày 30/01/2018, tại Trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 18/2017/TLPT-KDTM ngày 08 tháng 12 năm 2017, về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/QĐPT- KDTM ngày 15 tháng 1 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển đô thị B

Địa chỉ: Phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Thanh C, tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền ( theo giấy ủy quyền số 47/GUQ.UDEC ngày 18/02/2016):

- Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1971, chức vụ: Chánh văn phòng (có mặt).

- Ông Lê Thanh N, sinh năm 1978, chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh (có mặt).

Bị đơn: Tổng Công ty Xây dựng S.

Địa chỉ: Phường Đa Kao, quận N, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K, tổng giám đốc công ty. Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thái D, sinh năm 1990 (có mặt) .

Địa chỉ: phường Bến Thành, quận N, thành phố Hồ Chí Minh. (theo giấy ủy quyền số 01/UQ-SGCC ngày 19/01/2018).

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Tổng Công ty Xây dựng S: Bà Lê Thị Hoài G, sinh năm 1978 thuộc đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

Do có kháng cáo của bị đơn là Tổng Công ty Xây dựng S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển đô thị B (viết tắt là Công ty XD&PT đô thị B), có ông Lê Thanh N và ông Nguyễn Công T đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 2010, Công ty XD&PT đô thị B và Tổng Công ty Xây dựng S (viết tắt là Tổng CTXD S) đã ký kết các hợp đồng thi công 04 gói thầu san lấp số 15,16,17, 18 về việc san lấp nền khu công nghiệp Cái Mép, thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Các hợp đồng san lấp gói thầu số 15, 16, 18 hai bên đã thực hiện xong và đã thanh toán xong. Còn hợp đồng san lấp gói thầu số 17 ký ngày 01/6/2010 theo hợp đồng số 10/2010/TCT-HĐKT có giá trị 85.196.189.000đ, thời hạn bảo hành công trình là một năm kể từ ngày nghiệm thu bàn giao công trình về việc san nền các lô số TT 2, 5, 6, 7, 8 giai đoạn 1, khu Bắc, Khu công nghiệp Cái Mép thuộc dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp Cái Mép.

Sau khi ký hợp đồng số 10/2010/TCT-HĐKT ngày 01/6/2010 thì Công ty XD&PT đô thị B đã tiến hành san lấp đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 15/6/2011, hai bên đã tiến hành ký biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng dưới sự giám sát của các bên tư vấn thiết kế và tư vấn giám sát. Tổng CTXD S đã thanh toán cho Công ty XD&PT đô thị B 76.676.618.400đ tương đương 90% giá trị quyết toán. Theo hợp đồng thì còn lại 10% tương ứng với 8.519.567.600đ Tổng CTXD S có trách nhiệm trả cho Công ty XD&PT đô thị B khi hết thời hạn bảo hành vào ngày 15/6/2012.

Ngày 27/6/2012  UBND thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo thành lập Đoàn thanh tra liên ngành do Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh làm trưởng đoàn tiến hành thanh tra tại Tổng CTXD S.

Ngày 17/4/2013, Đoàn thanh tra liên ngành ban hành Kết luận 260/KL với nội dung: Các gói thầu 16, 17, 18 có sai lệch so với hợp đồng hai bên ký kết. Công ty XD&PT đô thị B và Tổng CTXD S đã có văn bản giải trình tuy nhiên Đoàn thanh tra liên ngành Thành phố Hồ Chí Minh không xem xét ý kiến giải trình của hai công ty mà lại ra quyết định tạm giữ số tiền 5.238.045.451đ tương ứng với khối lượng san lấp thiếu là 73.282m3 gửi vào tài khoản của Kho bạc thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị UBND thành phố Hồ Chí Minh chuyển hồ sơ tài liệu cho Cơ quan điều tra– Công an thành phố Hồ Chí Minh để xem xét khởi tố vụ án.

Ngày 14/12/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn số 3910/CV-PC46(Đ8) phúc đáp Công văn số 327/C.UDEC ngày 14/11/2016 của Công ty XD&PT đô thị B về việc không khởi tố vụ án và cho rằng quá trình điều tra không có cơ sở xác định chính xác khối lượng vật tư san lấp của các gói thầu. Như vậy, căn cứ hợp đồng số 10/2010/TCT-HĐKT ngày 01/6/2010 thì Công ty XD&PT đô thị B đã thực hiện đúng các cam kết và trong thời hạn bảo hành Tổng CTXD S không có bất kỳ khiếu nại, thắc mắc gì nên khi hết thời hạn bảo hành, Tổng CTXD S có nghĩa vụ phải trả số tiền còn lại là 8.519.503.600đ và toàn bộ tiền lãi chậm trả cho Công ty XD&PT đô thị B, cụ thể như sau:

- Ngày 16/6/2012 là ngày Tổng CTXD S phải có trách nhiệm thanh toán nợ nên đây cũng là ngày mà Công ty XD&PT đô thị B bắt đầu phải chịu lãi chậm trả đến ngày Tòa án nhân dân huyện Tân Thành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vào ngày 27/9/2017.

- Về mức lãi suất chậm trả: Mặc dù Công ty XD&PT đô thị B thi công công trình có huy động vốn vay của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Tuy nhiên, tại Điểm 5.3.4 Khoản 5.3 Điều 5 của Hợp đồng chỉ ghi “Nếu nhà thầu không nhận được tiền thanh toán theo Khoản 5.3, Chủ đầu tư phải bồi thường thiệt hại về tài chính theo từng tháng trên cơ sở số tiền đã không được thanh toán trong thời gian chậm trễ theo lãi suất ngân hàng” mà không ghi ngân hàng cụ thể. Vì vậy, Công ty XD&PT đô thị B áp dụng mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn đang còn hiệu lực thi hành là 9,0%/năm nên mức lãi và lãi xuất được tính như sau:

1. Đối với khoản nợ 8.519.503.600đ (10% giá trị hợp đồng giữ lại bảo hành) - 5.238.045.451đ (tương ứng khối lượng san lấp thiếu 73.282m3 theo Kết luận 260/KL ngày 17/4/2013) = 3.281.522.149đ và lãi chậm trả của 3.281.522.149đ là:

Tổng thời gian chậm trả: Từ ngày 16/6/2012 đến ngày 27/09/2017 là 1.926 ngày. Lãi suất cho vay ngắn hạn là 9%/năm ( 9%/360 ngày) nên lãi theo ngày là 0,02500%/ngày. Do đó tiền lãi theo lãi suất cơ bản của số tiền 3.281.522.149đ là: 3.281.522.149  x 0,02500% x 1.926 ngày = 1.580.052.914đ (Một tỷ, năm trăm tám mươi triệu, không trăm năm mươi hai ngàn, chín trăm mười bốn đồng) nên tiền lãi quá hạn của số tiền 3.281.522.149đ là: 1.580.052.914 x 150% = 2.370.079.371đ (hai tỷ, ba trăm bẩy mươi triệu, không trăm bẩy mươi chín ngàn, ba trăm bẩy mươi mốt đồng). Vì vậy đối với khoản nợ 3.281.522.149đ thì Tổng CTXD S phải trả cho Công ty XD&PT đô thị B là: 3.281.522.149 đ (tiền gốc) + 2.370.079.371đ (tiền lãi) = 5.651.601.520đ (năm tỷ, sáu trăm năm mươi một triệu, sáu trăm lẻ một ngàn, năm trăm hai mươi đồng).

2. Đối với khoản nợ 8.519.503.600đ (10% giá trị hợp đồng giữ lại bảo hành) - 3.281.522.149đ (Tổng CTXD S chậm trả) = 5.238.045.451đ (tương ứng khối lượng san lấp thiếu 73.282m3  theo Kết luận 260/KL ngày 17/4/2013) và lãi chậm trả của 5.238.045.451đ là:

Thời điểm bắt đầu tính lãi suất chậm trả là ngày 15/6/2012 (thời hạn bảo hành Công trình gói thầu số 17 đã kết thúc) nên ngày 16/6/2012 là ngày Tổng CTXD S phải có trách nhiệm thanh toán và đây cũng là ngày mà Công ty XD&PT đô thị B bắt đầu tính lãi chậm trả đến ngày 17/4/2013 (là ngày có Kết luận thanh tra 260/KL- TTTP-P1 kiến nghị UBND thành phố Hồ Chí Minh thu hồi 5.238.045.451đ (tương ứng khối lượng san lấp thiếu 73.282m3) của Tổng CTXD S nộp vào ngân sách là 306 ngày. Lãi suất cho vay ngắn hạn là 9%/năm ( 9%/360 ngày) nên tiền lãi theo ngày là 0,02500%. Do đó tiền lãi phải trả là: 5.238.045.451   x 0,02500% x 306 ngày = 400.710.477đ (Bốn trăm triệu, bảy trăm mười ngàn, bốn trăm bảy bảy đồng). Vì vậy đối với khoản nợ 5.238.045.451đ thì Tổng CTXD S phải trả cho Công ty XD&PT đô thị B là: 5.238.045.451đ (tiền gốc) + 400.710.477đ (tiền lãi) = 5.638.755.928đ (năm tỷ, sáu trăm năm mươi mốt triệu, sáu trăm lẻ một ngàn, năm trăm hai mươi đồng).

Như vậy, tổng số tiền Công ty XD&PT đô thị B yêu cầu Tổng CTXD S phải trả tính đến ngày 27/9/2017 là: 5.638.755.928đ + 5.651.601.520đ = 11.290.357.448đ (Mười một tỷ, hai trăm chín mươi triệu, ba trăm lăm mươi bảy ngàn, bốn trăm bốn mươi tám đồng).

Bị đơn Tổng CTXD S do ông Phạm Thống N đại diện theo ủy quyền trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau:

Căn cứ Điều 23.6 của Hợp đồng san lấp số 10/2010/TCT-HĐKT ngày 01/06/2010 thì tranh chấp phải được giải quyết bằng hòa giải của hai bên và nếu không giải quyết được thì phải giải quyết bởi Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.

Tổng CTXD S thừa nhận có ký các hợp đồng san lấp các gói thầu số 15, 16, 17, 18 với Công ty XD&PT đô thị B, trong đó các hợp đồng đối với gói thầu số 15, 16, 18 đã thanh toán xong, riêng gói thầu số 17 được ký kết theo hợp đồng san lấp số 10/2010/TCT-HĐKT ngày 01/06/2010 Tổng CTXD S đã thanh toán cho Công ty XD&PT đô thị B số tiền là 76.676.618.400đ tương đương 90% giá trị quyết toán. Số tiền còn lại là 8.519.567.600đ tương đương 10% Tổng CTXD S sẽ thanh toán cho Công ty XD&PT đô thị B khi hết hạn bảo hành công trình (12 tháng) đúng như trình bày của Công ty XD&PT đô thị B.

Tuy nhiên ngày 27/6/2012, UBND thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị chủ quản của Tổng CTXD S đã thành lập đoàn thanh tra liên ngành để thanh tra 03 gói thầu trên.

Tại kết luận số 260/KL ngày 17/4/2013, Thanh tra thành phố đã kết luận các sai phạm do đơn vị thi công thiếu khối lượng san lấp các gói thầu 16, 17, 18 nên ngày 12/2/2014, Chánh thanh tra thành phố ban hành quyết định số 56/QĐ về việc chuyển số tiền 5.238.045.451đ từ tài khoản tạm giữ tương ứng với phần khối lượng san lấp thiếu vào ngân sách UBND thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay Tổng CTXD S đã có văn bản xin ý kiến UBND thành phố Hồ Chí Minh về việc xử lý số tiền này nhưng UBND thành phố Hồ Chí Minh chưa có chỉ đạo trả số tiền này cho Công ty XD&PT đô thị B.

Đối với số tiền còn lại hiện Tổng CTXD S đang giữ là 3.238.045.451đ thì Tổng CTXD S đồng ý trả cho Công ty XD&PT đô thị B khi nhận được hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty XD&PT đô thị B.

Về tiền lãi: Đối với số tiền lãi của số tiền 5.238.045.451đ, Tổng CTXD S không giữ mà đang tạm giữ trong ngân sách nhà nước nên không có cơ sở tính lãi. Đối với số tiền lãi của số tiền 3.238.045.451đ, Tổng CTXD S chưa nhận được hóa đơn giá trị thanh toán nên không có cơ sở thanh toán số tiền này. Do vậy, cũng không có cơ sở để thanh toán tiền lãi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2017/KDTM-ST  ngày 2/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành đã áp dụng Điều 30; 35 và Điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 85 Luật xây dựng. Điều 306 Luật thương mại. Điều 374, 375 Bộ luật dân sự 2005. Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty XD&PT đô thị B. Buộc Tổng CTXD S phải trả cho Công ty XD&PT đô thị B tiền nợ thi công xây dựng san lấp tổng cộng là: 11.290.357.448 đ (Mười một tỷ, hai trăm chín mươi triệu, ba trăm năm mươi bảy ngàn, bốn trăm bốn mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 8.519.567.600đ, nợ lãi là 2.770.789.848đ.

- Công ty XD&PT đô thị B có trách nhiệm xuất hóa đơn giá trị giá tăng đối với số tiền trên cho Tổng CTXD S. Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi xuất chậm trả, án phí, thời hiệu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 05/10/2017 Tổng CTXD S có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 25/2017/KDTM-ST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành với lý do:

- Công ty XD&PT B tiến hành hoạt động san lấp mặt bằng trong khu công nghiệp Cái Mép cho Tổng CTXD S nhưng chưa xuất hóa đơn tài chính để yêu cầu thu tiền theo đúng qui định của pháp luật. Trong khi đó theo luật thuế giá trị gia tăng bên cung cấp dịch vụ phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng phù hợp thì mới có quyền đòi tiền dịch vụ. Trong vụ án này Công ty XD&PT B chưa thực hiện nghĩa vụ xuất hóa đơn của mình nhưng đã đòi tiền Tổng CTXD S là chưa đủ điều kiện khởi kiện.

- Thực hiện yêu cầu của UBND Thành phố Hồ Chí Minh theo thông báo số 378  nên  ngày  04/6/2013  Tổng  CTXD  S  đã  nộp  vào  ngân  sách  nhà  nước 5.238.045.451đ trong số tiền 8.519.567.600đ về khoản bảo hành của gói thầu số 17 mà Tổng CTXD S còn giữ của Công ty XD&PT B nhưng bản án sơ thẩm không xem xét thấu đáo mức độ lỗi của Công ty XD&PT B mà buộc Tổng CTXD S chịu hết trách nhiệm thanh toán kể cả tiền lãi phát sinh là không thỏa đáng thiếu thuyết phục.

Do đó Tổng CTXD S yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại chính xác mức độ lỗi của Công ty XD&PT B và Tổng CTXD S trong quá trình thực hiện hợp đồng thi công xây dựng nhằm xác định chính xác nghĩa vụ xuất hóa đơn của Công ty XD&PT B và nghĩa vụ thanh toán của Tổng CTXD S (BL 393).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông D đại diện Tổng CTXD S và luật sư G bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Tổng CTXD S có quan điểm: Việc áp dụng mức lãi suất và cách tính lãi suất của Công ty XD&PT B, cũng như việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty XD&PT B về lãi suất chậm trả là không đúng. Theo bản luật cứ ngày 30/01/2018 và lời trình bày của đại diện Tổng CTXD S thì căn cứ áp dụng mức lãi suất trung bình của ba ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật là 6,36%/năm (theo ngày là 0,0636/360) và cách tính lãi suất đối với số tiền chậm trả thì tổng số tiền lãi chậm trả tổng cộng là 1.399.739.463đ (một tỷ, ba trăm chín mươi chín triệu, bẩy trăm ba mươi chín ngàn, bốn trăm sáu mươi ba đồng) cụ thể như sau:

+ Lãi suất của số tiền 3.281.522.149đ đối với thời gian chậm thanh toán 1.926 ngày là: 3.281.522.149đ x (0,0636/360) x 1.926 ngày = 1.116.570.726đ.

+ Lãi suất của số tiền 5.238.045.451đ đối với thời gian chậm thanh toán 306 ngày là: 5.238.045.451đ x (0,0636/360) x 306 ngày = 283.168.737đ.

(Do đó tổng lãi xuất chậm trả của 8.519.567,600đ  là: 1.116.570.726đ  + 283.168.737đ = 1.399.739.463đ (một tỷ, ba trăm chín mươi chín triệu, bẩy trăm ba mươi chín ngàn, bốn trăm sáu mươi ba đồng).

- Ông T, ông N đại diện theo ủy quyền của Công ty XD&PT B có quan điểm:

Sau khi nghe Hội đồng xét xử phúc thẩm giải thích và sau khi xem xét cân nhắc các khía cạnh khách quan, chủ quan của đôi bên đối với toàn bộ nội dung vụ án, và vì lợi ích của việc được đảm bảo thanh toán ngay sau khi bản án phúc thẩm được ban hành theo kết quả cuối cùng, theo quan điểm của ông D đại diện Tổng CTXD S và luật sư G bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Tổng CTXD S đưa ra, thì ông T và ông N đại diện theo ủy quyền của Công ty XD&PT B nhất trí đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo về việc áp dụng mức lãi suất và cách tính lãi suất chậm trả đối với số tiền chưa thanh toán theo bản luật cứ ngày 30/01/2018 và lời trình bày của ông D đại diện Tổng CTXD S và luật sư G bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Tổng CTXD S.

- Nội dung ông D đại diện Tổng CTXD S và ông T, ông N đại diện theo ủy quyền của Công ty XD&PT B thỏa thuận thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án như sau:

+ Chấp nhận một phần kháng cáo của Tổng CTXD S về việc áp dụng mức lãi suất và cách tính lãi suất chậm trả đối với số tiền chưa thanh toán của Tổng CTXD S đối với Công ty XD&PT B. Tổng CTXD S xác định còn nợ và có trách nhiệm thanh toán cho Công ty XD&PT B số tiền còn lại của gói thầu số 17 theo hợp đồng san lấp số 10/2010/TCT-HĐKT ngày 01/6/2010 là 9.919.307.063đ (chín tỷ, chín trăm mười chín triệu, ba trăm lẻ bẩy ngàn, không trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 8.519.567,600đ (tám tỷ, năm trăm mười chín triệu, năm trăm sáu mươi bẩy ngàn sáu trăm đồng) và nợ lãi là 1.399.739.463đ (một tỷ, ba trăm chín mươi chín triệu, bẩy trăm ba mươi chín ngàn, bốn trăm sáu mươi ba đồng).

+ Kể từ ngày Công ty XD&PT B có đơn yêu cầu thi hành án thì Tổng CTXD S phải chịu thêm một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định của pháp luật.

+ Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: Tổng cộng là 112.000.000đ + 5.919.307đ ( 0,1% của 5.919.307.063đ) = 117.919.307đ (một trăm mười bẩy triệu, chín trăm mười chín ngàn, ba trăm lẻ bẩy đồng). Các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có quan điểm:

Về tố tụng những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm ông T, ông N đại diện theo ủy quyền của Công ty XD&PT B nhất trí đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo về việc áp dụng mức lãi suất và cách tính lãi suất chậm trả đối với số tiền chưa thanh toán theo bản luật cứ ngày 30/01/2018 và lời trình bày của ông D đại diện Tổng CTXD S và luật sư G bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Tổng CTXD S. Xét sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm theo nội dung nêu trên.

Về án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm: Tổng CTXD S phải chịu. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 300 Bộ luật Tố tụng Dân sự:

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2017/KDTM-ST  ngày 2/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành như sau:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của Tổng công ty S về việc áp dụng mức lãi suất và cách tính lãi suất chậm trả đối với số tiền chưa thanh toán của Tổng công ty S đối với Công ty Cổ phần Xây dựng B. Tổng công ty S xác định còn nợ và có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Xây dựng B số tiền còn lại của gói thầu số 17, theo hợp đồng san lấp số 10/2010/TCT-HĐKT ngày 01/6/2010 là 9.919.307.063đ (chín tỷ, chín trăm mười chín triệu, ba trăm lẻ bẩy ngàn, không trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 8.519.567,600đ (tám tỷ, năm trăm mười chín triệu, năm trăm sáu mươi bẩy ngàn sáu trăm đồng) và nợ lãi là 1.399.739.463đ (một tỷ, ba trăm chín mươi chín triệu, bẩy trăm ba mươi chín ngàn, bốn trăm sáu mươi ba đồng).

Kể từ ngày Công ty Cổ phần Xây dựng B có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng Tổng công ty xây dựng S phải chịu thêm một khoản tiền lãi, theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho Công ty Cổ phần Xây dựng B.

2. Án phí Kinh doanh thương mại:

- Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:

+ Tổng Công ty Xây dựng S phải nộp 117.919.307đ (một trăm mười bẩy triệu, chín trăm mười chín ngàn, ba trăm lẻ bẩy đồng).

+ Công ty Cổ phần Xây dựng B được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp 58.259.000 đồng (năm mươi tám triệu hai trăm năm mươi chín ngàn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 024545 ngày 24/01/2014 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

-  Án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm: Tổng công ty S phải nộp 2.000.000đ (hai triệu đồng), khấu trừ vào 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm Tổng công ty S đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 08097 ngày 17/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Như vậy Tổng công ty xây dựng S đã nộp xong án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 30/01/2018).


234
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về