Bản án 01/2018/HSST ngày 31/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 01/2018/HSST NGÀY 31/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2017/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/HSST-QĐ ngày 18/01/2018, đối với bị cáo

Trần Văn Th, sinh năm 1983; Nơi sinh và Nơi cư trú: Thôn G, xã Ái Th,huyện B, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Th, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1959; Có vợ: Trương Thị H, sinh năm 1992; Con có 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân ngày 25/9/2017, Ủy Ban Nhân Dân xã Ái Th ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị bắt tạm giữ ngày từ 09/10/2017, tạm giam từ ngày 14/10/2017, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/10/2017, Trần Văn Th, sinh năm 1983, trú tại Thôn G, xã Ái Th, huyện B, tỉnh H. Bị tổ công tác Công an huyện B đang làm việc tại dốc Sán thuộc Phố 1, xã Lâm X kiểm tra thì Th vứt 01 (một) gói nilon màu trắng xuống đường, tổ công tác đã kiểm tra và phát hiện bên trong túi đựng 03 gói nhỏ được bọc bằng túi nilon bên trong là lớp giấy bạc của bao thuốc lá có một mặt màu vàng và một mặt màu trắng, Th khai nhận các gói bột trên là Heroine. Th khai trưa ngày 09/10/2017, Th đi xe máy BKS 36N7-8568 nhãn hiệu WAWES từ nhà ở thôn Giổi xã Ái Th huyện B lên khu vực Đồng T xã Thiết Ống huyện B, đến chợ Đồng Tâm Th gặp một người đàn ông tên là B không biết địa chỉ mua một gói Heroine với giá 200.000đ mục đích để sử dụng, khi quay về đến địa phận thôn Quyết Th xã Thiết Ống huyện B thì dừng xe lại rồi chia làm 04 gói nhỏ, Th sử dụng một gói còn 03 gói bỏ vào túi nilon màu trắng và cầm ở tay trái rồi tiếp tục đi về nhà đến dốc Sán thì bị bắt quả tang.

Công an huyện B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ tang vật, cùng 01 (một)chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ZIP mobile, loại ZIP82 màu đen-đỏ, có số,  IMEI1: 842017082070521 và 01(một) chiếc xe máy BKS 36N7-8586, nhãn hiệu WAWES màu sơn Đen-Bạc, số máy HC 12E-0176166; số khung RLHH12078Y584231(điện thoại và xe máy đã qua sử dụng) về trụ sở UBND xã Lâm X để giải quyết.

Tại bản kết luận giám định số 2178/MT-PC54, ngày 11/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, kết luận:

Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng là 0,477g loại: Heroine.

Quan quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, Trần Văn Th khai nhận toàn  bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 03/CT-VKS-MT, ngày 25/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh H đã truy tố Trần Văn Th về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14. Đề nghị xử phạt bị cáo: Từ  24 (hai bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù giam. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là mẫu vật còn lại sau giám định; Trả lại điện thoại di động và xe máy cho bị cáo. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc làm của bị cáo là sai trái trước pháp luật. Xin được về sớm để làm người có ích cho xã hội và nuôi dậy con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, người bào chữa đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo Trần Văn Th, trưa ngày 09/10/2017 đã mua của một người đàn ông tên là B không biết địa chỉ tại chợ Đồng T 01 gói Heroine với giá tiền là 2.000.000đ, về đến địa phận thôn Quyết Th xã Thiết Ố huyện Bá Th thì dừng xe lại rồi chia làm 04 gói nhỏ, Th sử dụng 01 gói còn 03 gói bỏ vào túi nilon màu trắng và cầm ở tay trái rồi tiếp tục đi về nhà đến dốc Sán thì bị bắt quả tang. Kết luận giám định số 2178/MT-PC54, ngày 11/10/2017 là ma túy, có tổng trọng lượng là 0,477g loại: Heroine.

Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Như vậy Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; tương ứng với điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Vụ án thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, tính chất và mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hại lớn cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây tác hại nhiều mặt của đời sống xã hội. bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.

Động cơ và mục đích của bị cáo là mua Heroine về để sử dụng riêng cá nhân vì bị cáo là người nghiện ma túy.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có; tiền sự không, tiền án không; Về nhân thân ngày 25/9/2017, Ủy Ban Nhân Dân xã Ái Th ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần phải xử phạt tù bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người tốt. Nhưng khi lượng hình phạt cũng cần xem xét giảm hình phạt cho bị cáo vì sau khi bị bắt và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015);

So sánh quy định quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm, cao hơn so với mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2016, của Quốc hội và Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao nên cho bị cáo được hưởng mức khoan hồng của chính sách pháp luật hình sự hiện hành năm 2015.

Đề nghị của Viện kiểm sát: Về áp dụng pháp luật là có căn cứ theo quy định, mức hình phạt hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Bị cáo mua ma túy về tàng trữ mục đích là sử dụng cho bản thân, gia đình thuộc diện hộ nghèo, là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

Cơ quan quan điều tra đã thu giữ của bị cáo gồm: Toàn bộ gói niêm phong và 0,452g chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 2178/MT-PC54 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được gián kín và niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Trần Thúy Hằng, Bùi Võ Hoàng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 (một)chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ZIP mobile, loại ZIP82 màu đen-đỏ, có số,  IMEI1: 842017082070521 và 01(một) chiếc xe máy BKS 36N7-8586, nhãn hiệu WAWES màu sơn Đen- Bạc, số máy HC 12E-0176166; số khung RLHH12078Y584231(điện thoại và xe đã qua sử dụng), xét thấy tài sản đã thu giữ không phải là vật chứng; không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo Trần Văn Th

Về nguồn gốc ma túy, Th khai mua của một người đàn có tên là B nhưng không biết địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

[4] Về án phí: Bị cáo Trần Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo: Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo:  Trần Văn Th 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 09 tháng 10 năm 2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo thời hạn là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) để bảo đảm cho việc thi hành án phạt tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Xử: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ gói niêm phong và 0,452g chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 2178/MT-PC54 do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được gián kín và niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Trần Thúy Hằng, Bùi Võ Hoàng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn Th 01 (một)chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ZIP mobile, loại ZIP82 màu đen-đỏ, có số,  IMEI1: 842017082070521 và 01(một) chiếc xe máy BKS 36N7-8586, nhãn hiệu WAWES màu sơn Đen- Bạc, số máy HC 12E-0176166; số khung RLHH12078Y584231(điện thoại và xe đã qua sử dụng).

Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bá Thước theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 03 ngày 28/12/2017.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo: Trần Văn Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày 31 tháng 01 năm 2018.


138
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về