Bản án 01/2018/HS-ST ngày 10/01/2018 về tội cố ý cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VC, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 01/2018/HS-ST NGÀY 10/01/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 10 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2017/TLST-ST ngày 10 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2017/HSST-QĐ  ngày 08/12/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2017/QĐST-HS ngày 28/12/2017 đối với các bị cáo:

1. Tăng Trí H, sinh năm 1996; nơi cư trú tại: Khóm 4, Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; con: ông Tăng Văn M (s) và bà Huỳnh Thị Ngọc Á (s); anh, chị, em ruột: Có 03 người; vợ và con: Không có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/9/2017 cho đến nay; (bị cáo có mặt).

2. Lâm Tấn Đ (Đ Đ), sinh năm 1994; cư trú tại: Khóm 4, Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 6/12; con: Ông Lâm T T (s) và bà Dương Thị Xà V (s); anh, chị, em ruột: Có 02 người; vợ và con: Không có; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam ngày 09/11/2017; (bị cáo có mặt).

- Người bị hại: Trần Quốc H1, sinh năm 1998 (có mặt) Cư trú tại: Khóm 1, Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Huỳnh Thị Ngọc Á, sinh năm 1976 (có mặt) Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

2. La T, sinh năm 1972 (có mặt). Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

3. Dương Thị Xà V, sinh năm 1969 (có mặt). Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

- Người phiên dịch tiếng Khmer:  ông Lâm Diệp P - Cán bộ Ủy ban nhân dân Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 12/5/2017 Trần Quốc H1 và Nguyễn Ch n Q đang ngồi uống rượu tại quán “Đ” của ông Phan Minh K thuộc Khóm 1, Phường 1, thị xã VC thì gặp Tăng Trí H cùng với Lâm T n Đ (Đ Đ) đến giao nước đá cho quán “Đ”. H1 nhìn H thì H hỏi “mầy nhìn cái gì, mầy muốn có chuyện gì không”, H1 trả lời là “muốn gì là muốn gì”, H tiếp tục nói là “mầy đợi đây đi” rồi H điều khiển xe mô tô biển số 83P2-105.54 chở Đ về nhà H tại Khóm 4, Phường 1, thị xã VC. Sau khi về đến nhà, H l y 02 cây dao (loại dao chặt nước đá có nhiều răng cưa, trong đó: 01 cây dao dài 38cm và 01 cây dao dài 41cm) để trên xe mô tô và kêu Đ “mầy đi công chuyện với tao” và Đ đồng ý đi. H điều khiển xe mô tô chở Đ quay lại quán “Đ” để gặp H1. Tại quán “Đ”, H và H1 cự cãi một lúc thì H cầm 01 cây dao chặt nước đá (cây dao dài 38cm) để ở trên xe xông vào chém; H1 liền đưa tay trái lên đỡ nên bị trúng 01 nhát vào mu bàn tay trái và trượt trúng vùng đầu. Th y vậy, ông Phan Minh K (chủ quán “Đ”) dùng ghế chắn ngang ngăn cản để H1 chạy ra phía sau quán. Khi đó, Đ liền cầm 01 cây dao chặt nước đá dài 41cm đuổi theo và chém trúng 02 nhát vào vùng lưng của H1. H1 tiếp tục chạy đến dùng cây dao chặt nước đá chém trúng H1 01 nhát vào vùng lưng, 01 nhát vào tay trái. K tiếp tục chạy lại giật cây dao của H để H1 chạy ra trước quán thì bị v p ngã; Đ đang đuổi theo liền cầm cây dao chặt nước đá chém trúng H1 01 nhát vào vùng hông trái, H1 đứng dậy bỏ chạy ra quán “Đ”, Đ tiếp tục cầm dao đuổi theo thì Cao Hoài G can ngăn giật được cây dao của Đ. H1 được đưa đi c p cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi xu t viện, Trần Quốc H1 làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Tăng Trí H và Lâm Tấn Đạt đã gây thương tích cho mình. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã VC các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đạt đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp  y về thương tích số: 131/TgT-PY ngày 23/6/2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng kết luận Trần Quốc H1: Tổn thương do vật có 04 đầu nhọn cách đều và thẳng hàng gây nên, không ảnh hưởng chức năng khác. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 10% (bút lục số 133 và 134).

Tại bản Cáo trạng số: 37/QĐ-KSĐT ngày 06/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC đã truy tố các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đ (Đ Đ) về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự). 

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC trong phần tranh tụng đã nêu rõ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đ khai nhận hành vi “Cố ý gây thương tích” cho bị hại Trần Quốc H1. Tuy các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đ chỉ gây ra thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật dưới 11%, nhưng do các bị cáo H, Đ sử dụng cây dao chặt nước đá làm công cụ phạm tội là loại hung khí nguy hiểm và hành vi có tính ch t côn đồ, nên đã thỏa mãn điều kiện quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đ có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm e khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Đồng thời, đề nghị xử phạt bị cáo Tăng Trí H mức án từ 09 tháng đến 18 tháng tù; bị cáo Lâm Tấn Đ (Đ Đ) mức án từ 09 tháng tù đến 15 tháng tù;

+ Về trách nhiệm dân sự đề nghị: Buộc các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đạt  có nghĩa vụ bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho bị hại Trần Quốc H1 theo quy định của pháp luật.

+ Về xử lý vật chứng: Trả lại chiếc xe mô tô hiệu SIRIUS, biển số 83P2-105.54 cho bà Huỳnh Thị Ngọc Á; tịch thu tiêu hủy 02 cây dao màu đen - trắng chặt nước đá (01  cây  dài  38cm  và  01  cây  dài  41cm),  theo  Phiếu  nhập  kho  số:  NK05  ngày 09/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã VC.

Tại phiên tòa, bị hại Trần Quốc H1 thống nhất với nội dung Cáo trạng đã nêu và lời nhận tội của các bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng các khoản chi phí là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng); Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị xử phạt các bị cáo H, Đ thật nặng để răn đe phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Ngọc Á trình bày: Chiếc xe mô tô hiệu SIRIUS, biển số 83P2-105.54 là do bà mua nhưng nhờ ông La T đứng tên trong gi y đăng ký, nên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà. Việc bị cáo H lấy chiếc xe mô tô nêu trên đi gặp bị hại H1 cố ý gây thương tích bà hoàn toàn không biết. Nay bà xin được nhận lại xe và thống nhất số tiền mà con bà là bị cáo H nhờ bà nộp để bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan La T trình bày: Giấy đăng ký xe mô tô hiệu SIRIUS, biển số 83P2-105.54 là do ông đứng tên dùm cho bà Huỳnh Thị Ngọc Á và thực tế bà Á mới là chủ sở hữu hợp pháp nên ông không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị Xà V cho rằng trong quá trình điều tra bị cáo Đ có kêu bà nộp tiền bồi thường cho bị hại là 500.000 đồng, nay bà vẫn đồng ý bồi thường giúp con bà là bị cáo Đ và không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ đều thừa nhận hành vi là có dùng cây dao răng cưa chặt nước đá chém trúng nhiều nhát vào người của bị hại Trần Quốc H1 gây thương tích đúng như nội dung cáo trạng đã nêu và thống nh t với ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đều thống nhất tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của bị hại Trần Quốc H1; đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt các người làm chứng Nguyễn Ch n Q, Phan Minh K và Cao Hoài G và vắng mặt người đại diện hợp pháp của Nguyễn Chấn Q là ông Nguyễn Minh D. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa Kiểm sát viên, các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Xét thấy, sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa, các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình là do Trần Quốc H1 và Tăng Trí H có mâu thuẫn từ trước nên vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/5/2017 H và Đ giao nước đá cho quán “Đ” tại đường NSH, Khóm 1, Phường 1, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng thì th y H1 đang ngồi nhậu, hai bên cự cãi nhau. Sau đó, H và Đ chạy xe về lấy 02 cây dao chặt nước đá đến quán “Đ” chém trúng nhiều nhát vào bị hại Trần Quốc H1 dẫn đến tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên là 10%.

Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng đã thu được cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù, các bị cáo H và Đ chỉ gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 10% nhưng do các bị cáo đã dùng 02 cây dao chặt nước đá là loại hung khí nguy hiểm để hành xử trong khi không có mâu thuẫn gì lớn là có tính ch t côn đồ được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự vì đây là các tình tiết định khung hình phạt. Cho nên, Cáo trạng số: 37/QĐ-KSĐT ngày 06/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC truy tố các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ, phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo.

Xét các bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt hàng ngày mà sẵn sàng dùng hung khí nguy hiểm để hành xử một cách trái pháp luật, rõ ràng các bị cáo đã coi thường những quy tắc trong cuộc sống. Không dừng lại ở đó các bị cáo đã bất chấp sự can ngăn của Phan Minh K và Cao Hoài G mà quyết tâm truy đuổi để chém liên tiếp vào người Trần Quốc H1, cho thấy các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm đến cùng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện là người bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật và các bị cáo cũng thừa nhận là nhận thức được việc làm của các bị cáo là vi phạm pháp luật, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi mà các bị cáo đã gây ra.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ phạm vào tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự. Bởi vì, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền b t khả xâm phạm về sức khoẻ của con người, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần phải có một mức án thật nghiêm đối với các bị cáo để làm gương cho người khác. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo H như: Sau khi phạm tội có thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo đã nộp tiền để bồi thường thiệt hại tại Cơ quan điều tra là 1.000.000 đồng (một triệu đồng); bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo Lâm T n Đ cũng cần xem xét giảm nhẹ như: Bị cáo là người dân tộc Khmer, có trình độ học vấn th p nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị cáo có thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo đã nộp tiền bồi thường thiệt hại tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật

[3] Về trách nhiệm dân sự:Tại phiên tòa, bị hại Trần Quốc H1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng các khoản  chi phí gồm: Chi phí điều trị, thu nhập bị mất và tổn thương tinh thần là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).Tại phiên tòa, các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đ đều thống nhất bồi thường toàn bộ số tiền mà bị hại H1 yêu cầu là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về xử lý vật chứng:Trả lại chiếc xe mô tô hiệu SIRIUS, biển số 83P2-105.54 cho bà Huỳnh Thị Ngọc Á vì bà Á hoàn toàn không biết các bị cáo lấy xe của mình để thực hiện tội phạm. Riêng 02 cây dao màu đen - trắng loại chặt nước đá (01 cây dài 38cm và 01 cây dài 41cm) là công cụ phạm tội nên Hội đồng xét xử Quyết định tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) là khoản tiền mà gia đình các bị cáo tự nguyện nộp để bồi thường thiệt hại nên tiếp tục quản lý để đảm bảo cho việc thi hành án về trách nhiệm dân sự.

[5] Về án phí:Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trên phần bồi thường theo quy định của pháp luật.

[6] Tại phiên tòa, xét th y đề nghị của vị Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người bị hại, nên Hội đồng xét xử ch p nhận. 

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Tăng Trí H và Lâm Tấn Đ (Đ Đ) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: Điểm a, i khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm e khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ (Đ Đ). Tuyên xử:

1/ Xử phạt bị cáo Tăng Trí H: 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính kể từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.

2/ Xử phạt bị cáo Lâm T n Đ (Đạt Đ): 01 (một) năm tù. Thời gian ch p hành hình phạt tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 09/11/2017. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Các Điều 357, 584, 585, 586, 587 và 590 của Dân sự dân sự năm 2015: Buộc các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trần Quốc H1 tổng số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng); mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường là 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Tiếp tục quản lý số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) theo Biên lai thu số 007961 ngày 07/11/2017 và 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 007965 ngày 22/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu do gia đình của các bị cáo H, Đ đã nộp để đảm bảo cho việc thi hành án về trách nhiệm dân sự. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại Trần Quốc H1 có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ còn phải trả lãi cho bị hại Trần Quốc H1 theo mức lãi su t được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 41 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý như sau: Trả lại chiếc xe mô tô hiệu SIRIUS, biển số 83P2-105.54 cho bà Huỳnh Thị Ngọc Á. Tịch thu tiêu hủy 02 cây dao màu đen - trắng chặt nước đá (01 cây dài 38cm và 01 cây dài 41cm), theo Phiếu nhập kho số: NK05 ngày 09/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã VC.

Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Tăng Trí H và Lâm T n Đ mỗi bị cáo phải chịu là 375.000đ (ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Báo cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều  6, 7, 7a, 7b và  Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.


191
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/HS-ST ngày 10/01/2018 về tội cố ý cố ý gây thương tích

Số hiệu:01/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Vĩnh Châu - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về