Bản án 01/2018/HSST ngày 05/01/2018 về tội dâm ô đối với trẻ em

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 01/2018/HSST NGÀY 05/01/2018 VỀ TỘI DÂM Ô ĐỐI VỚI TRẺ EM

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử sơ  thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2017/HSST ngày 07/11/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2017/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Thanh L, sinh năm: 1988, tại An Phú, An Giang, Nơi cư trú: ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Chỗ ở: ấp Tắc Trúc, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng, trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D, sinh năm: 1962  và bà La Thị S, sinh năm: 1969; Vợ: Trần Thị Trúc L, sinh năm: 1992; có 01 con sinh năm 2013, Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2017 đến nay.

- Người bị hại: Nguyễn Thị K T, sinh năm 2002; Cư trú: Ấp B L, xã N H, huyện An Phú, An Giang.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Võ Thị Mỹ L, sinh năm 1979; Cư trú: Ấp B L, xã N H, huyện An Phú, An Giang. (Mẹ bị hại)

Ông Nguyễn Văn M (Mal), sinh năm 1976, Cư trú: Ấp B L, xã N H, huyện An Phú, An Giang.. (Cha bị hại) 

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị Xuyến, sinh năm 1999; vắng mặt

Cư trú: Ấp B L, xã N H, huyện An Phú, An Giang..

Lê Văn Dứt, sinh năm 1962; có mặt

Cư trú: Ấp T Tr, xã Nh H, huyện An Phú, An Giang.

La Thị Sàng, sinh năm 1969; vắng mặt

Cư trú: Ấp T Tr, xã Nh H, huyện An Phú, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 12/3/2017, sau khi phụ giúp mẹ bán rau củ xong, em Nguyễn Thị X dùng xe đạp chở em là Nguyễn Thị K T, sinh ngày 17/4/2002 đi về nhà ngụ ấp B L, xã N H. Lúc này, Lê Thanh L sau khi uống rượu xong tại xã Khánh An, L điều khiển xe mô tô 67H1 – 6919 đi về nhà tại ấp T T, xã N H. Khi đến khu vực xóm Chăm thuộc ấp B L, xã N H, L thấy X chạy xe đạp chở T đi phía trước cùng chiều, thấy khu vực đường vắng, không người qua lại và nghĩ X, T là người dân tộc Chăm không biết mặt L, nên L nảy sinh ý định sờ ngực X và T để thỏa mãn. Ngay sau đó, L điều khiển đến cặp ngang bên trái xe của X, T, L dùng tay phải sờ ngực của T, tiếp theo là sờ ngực trái của X nhưng chỉ trúng vào hông trái X và xe của X cọ vào xe của L làm X, T té ngã. L điều khiển chạy đi khoảng 42 mét thì quay xe lại dừng cách xe đạp của X đang ngã khoảng 4 – 5 mét hỏi X, Thoa có sau không nhưng X, T không trả lời nên L điều khiển xe về nhà ngủ.

Sau khi sự việc xảy ra X, T về nhà khóc thì chị Võ Thị Mỹ L (mẹ ruột X, T) hỏi việc gì thì X, T nói trên đường về nhà bị L dùng tay sờ ngực. Chị L đến gia đình L cho biết sự việc và đồng thời đến Công an xã N H, huyện An Phú tố giác L.

Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 2827/C54B, ngày 29/8/2017 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận như sau: Tại thời điểm giám định (tháng 8/2017) Nguyễn Thị K T có độ tuổi từ 14 năm 10 tháng đến 15 năm 04 tháng.

Tại bản Cáo trạng số 45/VKS-HS ngày 01/11/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Lê Thanh L về tội “Dâm ô đối với trẻ em” theo khoản 1 Điều 116 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như trên.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh L với mức án từ 4 tháng đến 5 tháng tù về tội “Dâm ô đối với trẻ em”.

Áp dụng Điều 47, 48 BLHS năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015. Để xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Người đại diện bị hại trình bày tranh luận: Yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 65.000.000 đồng, hiện gia đình bị hại đã bồi thường số tiền là 1.000.000 đồng, 65.000.000 đồng gồm các khoản như sau: 10 ngày nghỉ không bán rau, mỗi ngày 300.000 đồng x 10 ngày là 3.000.000 đồng; 03 ngày nuôi bệnh ăn uống ở bệnh viện là 1.000.000 đồng; Xe rau vốn là 4.000.000 đồng nhưng nghỉ 10 ngày không bán nên thiệt hại là 4.000.000 đồng. Tổn thất tinh thần 10 tháng lương cơ sở là 13.000.000 đồng. Tổng cộng là 21.000.000 đồng. (Số tiền còn lại 44.000.000 bị hại cho là danh dự nhân phẩm của con bà bị thiệt hại) trừ thiệt hại về tinh thần 10 tháng lương cơ sở thì tất cả các khoản còn lại đều không có chứng từ hợp pháp. Qua giải thích và động viên hòa giải của Hội đồng xét xử các bên thống nhất, bị hại và đại diện của người bị hại thống nhất số tiền bồi thường mà bị cáo bồi thường thêm là 20.000.000 đồng.

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người liên quan đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, trong đó có Nguyễn Thị X và La Thị S vắng mặt. Xét, sự có mặt của người bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại đã đủ cơ sở để Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án riêng những người tham gia tố tụng (người liên quan) vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 191, 192 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Bị cáo Lê Thanh L đã có hành vi dâm ô đối với trẻ em.

[3] Tại phần xét hỏi và tranh luận qua giải thích và động viên hòa giải của Hội đồng xét xử các bên thống nhất, bị hại và đại diện của người bị hại thống nhất số tiền bồi thường mà bị cáo bồi thường thêm là 20.000.000 đồng. Do đó buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền là 20.000.000 đồng và 1.000.000 đồng bị cáo và gia đình đã khắc phục trước, tổng cộng là 21.000.000 đồng.

[4] Căn cứ pháp luật, hành vi của bị cáo Lê Thanh L đã phạm tội “Dâm ô đối với trẻ em”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 116 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo Lê Thanh L về tội danh, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Xét về tính chất vụ án: Bị cáo đứng trước phiên tòa hôm nay là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ nhận thức nhưng vì tuổi trẻ nông nổi, nhất thời không kiềm chế được hành vi ham muốn về tình dục của mình, đã lợi dụng sự sơ hở của em T, bị cáo dùng tay bóp vào ngực của em T. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, đã xâm phạm tình dục trẻ em, do đó việc bị cáo thực hiện hành vi dâm ô với bị hại là vi phạm pháp luật hình sự, được quy định tại Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây nguy hại đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của người bị hại đặc biệt là trẻ em ở độ tuổi đi học rất dễ bị xâm hại, do đó cần phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[7] Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trái pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc trong lúc lượng hình để đưa ra bản án nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.

[8] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bên phía bị hại 1.000.000 đồng, bị cáo có con nhỏ, là lao động chính trong gia đình, tại phiên tòa đã tự nguyện bồi thường thêm số tiền là 20.000.000 đồng cho bị hại. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định như trên và xem xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 4 tháng đến 5 tháng tù là phù hợp, đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 116 BHLS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Từ những nhận định như trên về trách nhiệm bồi thường thiệt hại công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại (Đại diện bị hại), về mức bồi thường số tiền là 20.000.000 đồng, và 1.000.000 đồng đã khắc phục trước, tổng cộng là 21.000.000 đồng.

[11] Về vật chứng: Trả lại 01 xe mô tô biển số 67H1-6919 cho ông Lê Văn D. Do bị cáo mượn của ông để sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 khúc gỗ dài 01m04, 02 giỏ nhựa màu xanh, do không còn giá trị sử dụng.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 116 của Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Căn cứ Điều 47, Điều 48, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2  Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 592 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điểm d, khoản 1, Điều 12, Điểm f, khoản 1, Điều 23, Khoản 8 Điều 26, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 Về hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và các bộ luật, luật có liên quan.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh L phạm tội “Dâm ô đối với trẻ em”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 4 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 15/11/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại của bị hại và bị cáo tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh L bồi thường cho người bị hại là Nguyễn Thị K T (đại diện hợp pháp là bà Võ Thị Mỹ L) số tiền là 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Do đã nộp trước 1.000.000 đồng. Bị cáo chỉ phải nộp thêm số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về vật chứng:

Trả lại 01 xe mô tô biển số 67H1-6919 cho ông Lê Văn D

Tịch thu tiêu hủy 01 khúc gỗ dài 01m04, 02 giỏ nhựa màu xanh.

(Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú quản lý theo biên bản giao nhận ngày 06/11/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú).

Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thanh L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thanh L phải chịu 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (05/01/2018), bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự


379
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về