Bản án 01/2018/HS-ST ngày 04/01/2018 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 01/2018/HS-ST NGÀY 04/01/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC 

Ngày 04 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2017/HSST, ngày 23 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Đ sinh ngày 24/01/1971 tại tổ 24, phường Kỳ Bá, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: tổ 24, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Trọng Đ (Đã chết) và bà Trần Thị V, sinh năm 1944; có vợ: Nguyễn Thị Minh X, có 02 con. Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án: Bản án số 30/2016/HSST ngày 14/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Đức Đ 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày tuyên án về tội đánh bạc. Tiền sự: Không. Nhân thân: Tháng 3/1991 tham gia nghĩa vụ Công an đến tháng 3/1994 xuất ngũ trở về tham gia lao động sản xuất tại địa phương. Từ năm 1998 đến nay là Công nhân Công ty thủy lợi Bắc Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Ngày 24/11/1994 có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/9/2017 đến ngày 11/9/2017, được thay thế biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ( có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Phạm Văn T (Phạm T), sinh năm 1961( vắng mặ).

2.   Nguyễn Bình M, sinh năm 1953 ( vắng mặt).

3. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1966 ( vắng mặt).

Cùng trú tại thôn Nh, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 08/9/2017, Phạm Văn T (Phạm Tính), sinh năm 1961; sinh năm 1953; Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 cùng trú tại thôn Nhâm Lang, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đến nhà quản lý cống Nhâm Lang của Công ty thủy lợi Bắc Thái Bình thuộc địa phận thôn Nhâm Lang, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình do Nguyễn Đ sinh năm 1971, trú tại tổ 24, phường Kỳ Bá, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (là công nhân Công ty thủy lợi Bắc Thái Bình được giao quản) lý chơi. Tại đây, Nguyễn Văn Tính rủ Đ, Thái và Minh đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Chắn”. Nguyễn ĐứcĐ là người trải chiếu và chuẩn bị đĩa sứ, Nguyễn Văn T là người đi mua bài “Chắn”. Sau đó tất cả ngồi xuống chiếu đánh bạc, những người tham gia đánh bạc quy định: ù suông 20.000 đồng; dịch 10.000 đồng; ù có tôm hoặc trì cộng Đ 10.000 đồng; ù lèo, thiện khai hoặc chíu cộngĐ 20.000 đồng; ù 8 đỏ, bạch định, 10 chắn được tính là cước lớn nhất thì được tính ù là 50.000 đồng. Nếu ù có cước lớn nhất chỉ tính là 50.000 đồng, ù có nhiều cước nhỏ thì cộng các cước nhỏ với nhau có thể đến 100.000 đồng. Không ăn tiền của những người chéo cánh, khi ù lớn hơn 50.000 đồng thì phải chia đôi cho người chéo cánh. Đến khoảng 16 giờ 35 phút cùng ngày, các đối tượng đang đánh bạc bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Thu trên chiếu bạc 01 đĩa sứ, 01 chiếu cói, 01 bộ bài chắn gồm 100 quân và số tiền 4.620.000 đồng. Nguyễn Đức Đ sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh có ván thắng ván thua, khi bị bắt quả tang đã vất hết tiền xuống chiếu. Nguyễn Bình Minh mang theo 930.000 đồng, cho Phạm Văn T vay 500.000 đồng, còn 430.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh có ván thắng ván thua, khi bị bắt quả tang đã vất hết tiền xuống chiếu. Phạm Văn Tmang theo 24.000 đồng, vay của Minh 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh thắng đã trả Minh 200.000 đồng, khi bị bắt quả tang đã vất hết tiền xuống chiếu. Nguyễn Văn T mang theo 300.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh có ván thắng ván thua, khi bị bắt quả tang đã vất hết tiền xuống chiếu.

Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là 4.620.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Bản cáo trạng số 103/KSĐT, ngày 21/11/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 248, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 ( Viết tắt là BLHS 1999).

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Đức Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Trong phần tranh luận, bà Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đ về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS 1999. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng khoản1, 3 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3, Điều 7, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáoĐ từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng tù (được trừ đi 03 ngày tạm giữ); Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng  đối với bị cáo Đ.

Áp dụng Điều 41 BLHS 1999, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.620.000đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài chắn gồm 100 quân; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 chiếu cói đã qua sử dụng; trả lại bị cáoĐ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy màu vàng đã qua sử dụng bị vỡ một bên kính cường lực bên phải.

Lời nói sau cùng của bị cáoĐ đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo xin lại chiếc điện thoại di động Samsung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Đ tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm chứng tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập hồi 16 giờ 45 phút, ngày 08 /92017 tại nhà quản lý Cống Nhâm Lang thuộc địa phận thôn Nhân Lang, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (Bút lục từ số 16 đến số 19). Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Phạm Văn T (Phạm Tính), sinh năm 1961(Bút lục từ số 90 đến số 97); Nguyễn Bình M sinh năm 1953 (Bút lục từ số 103 đến số 111); Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 (Bút lục từ số 117 đến số 127) cùng trú tại thôn Nhâm Lang, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

[3] Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 16 giờ, ngày 08/9/2017, Nguyễn ĐứcĐ là người đang có tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích đã có hành vi dùng nhà ở của công nhân Công ty thủy lợi Bắc Thái Bình tại thôn Nhâm Lang, xã Tân Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình doĐ được giao quản lý cho Phạm Văn Tính, Nguyễn Bình Minh và Nguyễn Văn T đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, dưới hình thức đánh “Chắn” và trực tiếp tham gia đánh bạc. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, các đối tượng đang đánh bạc bị Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền xác định sử dụng vào việc đánh bạc là 4.620.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn ĐứcĐ đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS 1999. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáoĐ   khỏi cuôc sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền của bị cáoĐ đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương nơi bị cáo phạm tội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 30/2016/HSST ngày 14/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn ĐứcĐ 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày tuyên án về tội đánh bạc. Đến khi phạm tội ngày 08/9/2017, bị cáo chưa được xóa án tích. Do tổng số tiền bị cáo và các đối tượng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên tiền án trên đã được tính để định tội đối với bị cáo. Vì vậy bị cáoĐ không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 48 BLHS 1999.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáoĐ được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS1999. Ngoài ra, bị cáoĐ đã hoàn thành xong nghĩa vụ Công an và có bố, mẹ đẻ là ông Nguyễn Trọng Đạo và bà Trần Thị Việt được Nhà nước tặng Huân, Huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định khoản 2 Điều 46 BLHS 1999.

[7] Xét nhân thân: Bị cáo Đ có nhân thân xấu thể hiện ngày 24/11/1994 có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính.

[8] Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng phạt bổ sung với hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 248 BLHS 1999 đối với bị cáo Đ.

[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan công an thu giữ số tiền 4.620.000đồng ( Bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) từ việc đánh “ Chắn”, căn cứ Điều 41 BLHS 1999; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự  cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 bộ bài chắn gồm 100 quân, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếu cói đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy màu vàng đã qua sử dụng bị vỡ một bên kính cường lực bên là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo Đ

[10] Về án phí hình sự: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với Phạm Văn Tính, Nguyễn Bình Minh và Nguyễn Văn T đã có hành  đánh bạc vào ngày 08/9/2017 cùng Nguyễn Đtổng số tiền xác định sử dụng vào việc đánh bạc là 4.620.000 đồng. Tính, Minh và Thái không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Gá bạc và Tổ chức đánh bạc. Theo quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi nêu trên của Tính, Minh và Thái không cấu thành tội “Đánh bạc”. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã xử lý hành chính, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng/1người đối với đối với Phạm Văn Tính, Nguyễn Bình Minh và Nguyễn Văn T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng khoản1,3 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáoĐ được trừ 03 (ba) ngày tạm giữ (từ ngày 08/9/2017 đến ngày 11/9/2017).

Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009: Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 4.620.000đồng ( Bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài chắn gồm 100 quân; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 chiếu cói đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy màu vàng đã qua sử dụng bị vỡ một bên kính cường lực bên phải. (Những vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn ĐứcĐ phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04 tháng 01 năm 2018). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


233
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về