Bản án 01/2018/HN-PT ngày 08/01/2018 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 01/2018/HN-PT NGÀY 08/01/2018 VỀ TRANH CHẤP THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Ngày 08 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 27/2017/TLPT-HNGĐ ngày 21/11/2017 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 24/2017/HN-ST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Q bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2017/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2017, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1986 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện B, tỉnh Bình Phước.

2. Bị đơn: Ông Vũ Ngọc H, sinh năm: 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ M, tổ N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bình Phước. Người kháng cáo: Bị đơn ông Vũ Ngọc H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:

Tháng 5/2017 bà B và ông Vũ Ngọc H ly hôn. Theo Bản án Hôn nhân và gia đình số 24/2017/HNGĐ-ST ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước quyết định về con chung: Giao cháu Vũ Ngọc Gia N, sinh ngày 02/10/2014 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Vũ Ngọc Gia H, sinh ngày 13/4/2010 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà B và ông H không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay cháu Vũ Ngọc Gia H và ông H đang sinh sống tại tổ 8, tổ N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bình Phước. Tuy nhiên, ông H không có điều kiện nuôi dưỡng con do ông H không có nhà ở riêng mà hiện chung sống với gia đình cha, mẹ, anh chị và các cháu tổng cộng là 9 người nên điều kiện sinh hoạt không bảo đảm, ông H làm nghề sản xuất bún tươi và mua bán bún ở chợ nên không có thời gian chăm sóc, dạy dỗ con. Hiện tại bà B có điều kiện nuôi dưỡng con tốt hơn, bà có nhà ở và có thu nhập ổn định hàng tháng từ 18 đến 20 triệu đồng, bà kinh doanh mua bán nông sản và làm dịch vụ tại nhà nên có nhiều thời gian chăm sóc, dạy dỗ con. Đồng thời, cháu H là con gái, đang trong độ tuổi phát triển tâm, sinh lý rất cần có mẹ ở bên cạnh để chăm sóc, hướng dẫn cho cháu trong giai đoạn phát triển này. Do đó, bà B yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, cụ thể là giao con chung Vũ Ngọc Gia H, sinh ngày 13/4/2010 cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, bà B không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

Theo án sơ thẩm bị đơn ông Vũ Ngọc H trình bày:

Ông H thống nhất với phần trình bày của bà B về phần quan hệ hôn nhân và giao con chung theo Bản án số 24/2017/HNGĐ-ST ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước. Hiện nay cháu Vũ Ngọc Gia H và ông H đang sinh sống tại tổ 8, tổ N, phường P, thị xã Q, tỉnh Bình Phước. Ông H có thu nhập ổn định hàng ngày từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng để chăm sóc nuôi dưỡng con. Nay, bà B yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, cụ thể là giao cháu Vũ Ngọc Gia H cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng thì ông không đồng ý vì môi trường sống của bà B ở thôn 8, xã Y, huyện B không tốt, do bà B kinh doanh quán nước có tệ nạn xã hội nếu giao cháu H cho bà B nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của cháu.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 24/2017/HNGĐ-ST ngày 25/9/2017 của Toà án nhân dân thị xã Q tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn.

Giao con chung là cháu Vũ Ngọc Gia H, sinh ngày 13/4/2010 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Bà B không yêu cầu ông Vũ Ngọc H cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng của các đương sự.

Ngày 28/9/2017, bị đơn ông Vũ Ngọc H có đơn kháng cáo: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước giao con chung là cháu Vũ Ngọc Gia H, sinh ngày 13/4/2010 cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Ngọc H, giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 24/2017/HNGĐ-ST ngày 25/9/2017 của Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Bình Phước.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị đơn ông Vũ Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án xét xử lại vụ án theo hướng giao con chung là cháu Vũ Ngọc Gia H, sinh ngày 13/4/2010 cho ông H được trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Đơn kháng cáo của ông Vũ Ngọc H làm trong thời hạn luật định là hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét.

[1] Xét về điều kiện để nuôi con chung ông H: Ông H thừa nhận ông chưa có nhà ở riêng, hiện vẫn đang chung sống cùng gia đình gồm có 9 người. Thu nhập chính của ông là từ hoạt động sản xuất và bán bún tươi với mức thu mỗi ngày từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng (01 tháng từ 90.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng) nhưng ông không có tài liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập hàng tháng như ông trình bày. Mặt khác, căn cứ là giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh sản xuất bún tươi (bút lục 51) do ông đứng tên đăng ký với số vốn đăng ký là 5.000.000 đồng. Với số vốn kinh doanh mà ông H đăng ký thì mức thu nhập hàng tháng ông H trình bày là không phù hợp.

[2] Xét về điều kiện để nuôi con chung bà B: Bà B có điều kiện để nuôi dưỡng cháu H tốt hơn ông H. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên bà B (Bút lục 06, bút lục 10) thể hiện bà B có 02 căn nhà, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh (Bút lục 08, bút lục 11, bút lục 12), kinh doanh dịch vụ cho thuê phòng trọ, nước giải khát và thu mua nông sản do bà B đứng tên, hoạt động kinh doanh có đăng ký kê khai thuế và được Đội thuế liên xã số Z xác nhận mức doanh thu một tháng là 20.000.000 đồng.

[3] Theo biên bản lấy lời khai ngày 29/8/2017 (Bút lục 53) cháu H trình bày:

Thường ngày ở nhà cháu chơi với chị Huỳnh và chị Linh, bố không có thời gian chăm sóc và chơi với cháu, nay cháu có nguyện vọng được sống với mẹ vì mẹ thường xuyên chăm sóc và chơi cùng cháu. Hơn nữa, theo biên bản xác minh ngày 01/9/2017 (Bút lục 48) tại Hội liên hiệp phụ nữ phường P, thị xã Q, bà Bùi Thị Bạch M là Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ phường P có ý kiến: “Cháu Vũ Ngọc Gia H là con gái, đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý. Trong trường hợp mẹ cháu có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng thì giao cháu H cho mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ bảo đảm cho sự phát triển của cháu.”

[4] Do đó có cơ sở xác định bà B có đầy đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con tốt hơn ông H. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B giao con chung là cháu Vũ Ngọc Gia H cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ. Cần giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 24/2017/HNGĐ-ST ngày25/9/2017 của Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Bình Phước.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước có căn cứ nên được chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhậnnên ông H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Vũ Ngọc H.

Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 24/2017/HNGĐ-ST ngày 25/9/2017 của Toà án nhân dân thị xã Q, tỉnh Bình Phước.Áp dụng khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B.Thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Buộc ông Vũ Ngọc H phải giao cháu Vũ Ngọc Gia H, sinh ngày 13/4/2010 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Bà B không yêu cầu ông Vũ Ngọc H cấp dưỡng nuôi con.

Ông Vũ Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được quyền cản trở

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Vũ Ngọc H phải chịu 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị B không phải chịu, Chi cục thi hành án dân sự thị xã Q trả lại cho bà Nguyễn Thị B số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị B đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003847 ngày 21/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Q.

Án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Ông Vũ Ngọc H phải chịu được khấu trừ số tiền 300.000 đồng ông Vũ Ngọc H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003864 ngày 28/9/2017 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Q.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.


546
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về