Bản án 01/2018/HNGĐ-ST ngày 04/01/2018 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 01/2018/HNGĐ-ST NGÀY 04/01/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 04/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 197/2017/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2017/QĐXX- ST ngày 13 tháng 12 năm 2017; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị T - Sinh năm: 1983; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên – Có mặt.

- Bị đơn: Anh S – Sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị T và bị đơn anh S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên.

Chị T khai: Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh S sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp tính dẫn đến cãi vã, anh S thường xuyên đánh đập chị T. Sự việc kéo dài và từ đầu năm 2017, hai bên tự sống xa nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay, chị T nhận thấy tình cảm đã hết nên xin được ly hôn anh S.

Anh S khai do cuộc sống vợ chồng khó khăn dẫn đến xích mích cãi vã và có lúc anh S đánh chị T. Nay, chị T xin ly hôn, anh S không đồng ý vì nhận thấy còn tình cảm với chị T, anh S hứa khắc phục khuyết điểm để vợ chồng đoàn tụ nuôi con, nhờ Tòa xem xét.

- Về con chung: Có 02 con chung tên là N – sinh ngày 14/7/2012, K – sinh ngày 31/10/2013. Từ khi hai bên xa nhau, các con do anh S nuôi dưỡng. Nay, anh S, chị T thống nhất giao các con cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh S không yêu cầu. Tại phiên tòa, chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con số tiền 500.000đ/tháng/con. Anh S không chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của chị T, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Hai bên thống nhất không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

+ Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Về con chung: Giao cho anh S tiếp tục nuôi các con chung, ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị T. Tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xét. Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 10 tháng 6 năm 2011, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh S có mâu thuẫn do không hợp tính, thường xuyên cãi vã, có lúc anh S đánh chị T. Sự việc kéo dài và từ đầu năm 2017, chị T, anh S tự sống xa nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị T, anh S đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T: Chị T được ly hôn anh S.

[2] Về con chung: Xét thấy các con chung N, K lâu nay do anh S trực tiếp nuôi dưỡng, đã quen sống cùng anh S. Anh S và chị T thống nhất giao anh S tiếp tục nuôi dưỡng các con. Do đó, để tránh xáo trộn về chỗ ở, giúp các cháu N, K phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao các cháu N, K cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con số tiền 500.000đ/tháng/con. Anh S không yêu cầu cấp dưỡng, không chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của chị T. Xét thấy, anh S làm nghề nông, thu nhập không cao nên để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các cháu N, K; cần ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nói trên của chị T.

[3] Tài sản chung: Các đương sự thống nhất không yêu cầu nên không xét.

[4] Về án phí DSST: Nguyên đơn chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ, án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000đ. Tổng cộng 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 9, 26, 27 Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị T: Chị T được ly hôn anh S.

2. Về con chung:

Giao  02  con  chung  tên  N  –  sinh  ngày  14/7/2012,  K  –  sinh  ngày 31/10/2013 cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị T: Chị T cấp dưỡng nuôi 02 con chung N, K số tiền 500.000đ/tháng/con (Năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 01/2018 cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng); án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại phiếu thu số AA/2015/0003936 ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Như vậy, chị T còn phải nộp: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


96
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/HNGĐ-ST ngày 04/01/2018 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:01/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hòa - Phú Yên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về