Bản án 01/2018/DS-ST ngày 09/02/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VP

BẢN ÁN 01/2018/DS-ST NGÀY 09/02/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TD xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2017/TLST - DS ngày 19 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST – DS ngày 11 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV;
Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà Ree, số 9 ĐVB, phường 12, quận 4, thành phố HCM.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng Giang – Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền Thảo (Theo Văn bản ủy quyền số 14/UQ – QTRR.17 ngày 22 tháng 3 năm 2017);
Người được ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị T (Theo văn bản ủy quyền lại số 146/UQTT – QTRR.17 ngày 20 tháng 9 năm 2017);
Địa chỉ: Đường Lương Văn Can, thành phố VY, tỉnh VP, (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Khổng Thị Thanh H, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn ĐL, xã AH, huyện TD, tỉnh VP, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 9 năm 2017 và những lời khai tiếp theo người đại diện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV, bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngày 04 tháng 02 năm 2015, chị Khổng Thị Thanh H có ký Hợp đồng tín dụng số 20150204 – 129006 – 0011 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV để vay số tiền là 24.452.489đồng (Hai mươi tư triệu bốn trăm năm hai nghìn bốn trăm tám chín đồng), mục đích vay là tiêu dung cá nhân, hình thức vay tín chấp và không có tài sản bảo đảm. Theo thỏa thuận giữa Công ty tài chính và chị Khổng Thị Thanh H thì lãi suất của khoản vay trên là 4,59%/tháng. Phương thức trả nợ là trả chậm trong vòng 19 tháng. Tổng số tiền chị Khổng Thị Thanh H phải thanh toán cho Công ty tài chính trong vòng 19 tháng bao gồm cả gốc và lãi khi thực hiện hợp đồng là 37.162.000 đồng, cụ thể là: trong 18 tháng đầu mỗi tháng chị Khổng Thị Thanh H phải trả cho Công ty tài chính số tiền 1.957.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.936.000 đồng. Kỳ thanh toán là vào ngày 06 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 06 tháng 3 năm 2015.
Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, chị Khổng Thị Thanh H đã nhận đủ số tiền vay. Khi đến kỳ trả nợ, chị H đã trả cho Công ty tài chính được 10 lần tương ứng với 10 kỳ trả nợ với tổng số tiền là 19.570.000 đồng. Trong đó số tiền gốc mà chị H đã trả được là 10.299.160đồng, số tiền lãi trong hạn đã trả được là 9.270.840đồng từ ngày 06 tháng 3 năm 2015 đến ngày 17 tháng 01 năm 2016. Kể từ ngày 18 tháng 01 năm 2016 trở đi chị H không thanh toán thêm cho Công ty tài chính khoản tiền nào khác dù Công ty đã nhắc nhở nhiều lần. Tính đến nay số tiền mà chị Khổng Thị Thanh H còn nợ Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV là: Số nợ gốc chị Khổng Thị Thanh H chưa trả cho Công ty tài chính là: 14.153.329đồng. Số tiền lãi trong hạn theo hợp đồng tín dụng chị H chưa trả cho Công ty là 3.438.671 đồng. Tổng số tiền chị Khổng Thị Thanh H phải trả cho Công ty tài chính theo hợp đồng tín dụng là 17.592.000 đồng.
Nay Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV yêu cầu Tòa án buộc chị Khổng Thị Thanh H thanh toán toàn bộ số tiền 17.592.000đồng (Mười bảy triệu năm trăm chín mươi hai nghìn đồng). Đối với khoản nợ lãi, phạt phát sinh từ khi hết hạn hợp đồng đến ngày xét xử, Công ty Tài chính không yêu cầu chị H phải trả.
Đối với phần lãi suất chậm thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Khổng Thị Thanh H phải chịu lãi suất theo quy định về lãi suất theo Bộ luật dân sự năm 2015 trên tổng số dư nợ gốc còn lại.
- Bị đơn chị Khổng Thị Thanh H vắng mặt nhưng lời khai trước đây tại Tòa chị H trình bày: Về thời gian ký kết hợp đồng, mục đích vay, phương thức cho vay, số tiền vay, lãi suất, số tiền gốc và số tiền lãi trong hạn đã trả như người đại diện theo ủy quyền của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV trình bày là đúng. Nay chị đồng ý với yêu cầu trả nợ của Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV nhưng do kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, chị đề nghị được trả dần số tiền gốc và xin được miễn một phần số tiền lãi.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng như nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV buộc chị Khổng Thị Thanh H phải trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV toàn bộ số tiền  17.592.000  đồng  (Trong  đó,  số  tiền gốc là 14.153.329đồng và tiền lãi là 3.438.671đồng).
Về án phí: Chị Khổng Thị Thanh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” giữa Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV với chị Khổng Thị Thanh H theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn chị Khổng Thị Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV thấy rằng Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV là tổ chức tín dụng được thực hiện các hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng (cho vay ngắn hạn, trung hạn, cho vay tiêu dùng…). Hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV chịu sự điều chỉnh của Luật Tổ chức tín dụng. Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thoả thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thoả thuận đối với khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống có hiệu quả”.
Do vậy, việc Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV và chị Khổng Thị Thanh H thoả thuận mức lãi suất đối với khoản vay tiêu dùng của chị H là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật. Giữa Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV với chị Khổng Thị Thanh H đã ký kết hợp đồng tín dụng số 20150204- 129006 – 0011 ngày 04 tháng 02 năm 2015, theo đó Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV cho chị H vay 24.452.489đồng với lãi suất, mục đích vay, hình thức, phương thức trả nợ như các bên đã trình bày cụ thể ở trên. Hợp đồng trên là hợp pháp để các bên thực hiện. Sau khi ký hợp đồng tín dụng với Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV, chị H đã trả được cho Công ty tài chính được 10 lần, với tổng số tiền là 19.570.000 đồng.  Trong đó số tiền gốc mà chị H đã trả được là 10.299.160đồng, số tiền lãi trong hạn đã trả được là 9.270.840đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H đồng ý với yêu cầu trả tiền gốc và tiền lãi cho nguyên đơn nhưng chị H xin được trả dần số tiền gốc và xin được miễn một phần số tiền lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng về phương thức và thời gian trả nợ do các bên thoả thuận, đại diện Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV không đồng ý với quan điểm của chị H xin được trả dần số tiền gốc và xin được miễn một phần số tiền lãi. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV buộc chị H phải trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV tiền gốc 14.153.329đồng và tiền lãi 3.438.671đồng. Tổng cộng là 17.592.000 đồng.
Đối với khoản tiền nợ lãi, phạt phát sinh từ khi hết hạn hợp đồng đến ngày xét xử, do Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV không yêu cầu chị H phải thanh toán nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với phần lãi suất chậm thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật Công ty yêu cầu chị Khổng Thị Thanh H phải chịu lãi suất theo quy định về lãi suất của Bộ luật dân sự năm 2015 trên tổng số dư nợ gốc còn lại. Yêu cầu của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Khổng Thị Thanh H phải nộp án phí 5% giá trị tài sản tranh chấp là 17.592.000đồng x 5% = 879.600đồng. Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV đối với chị Khổng Thị Thanh H.
1. Buộc chị Khổng Thị Thanh H phải trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV 14.153.329đồng tiền gốc và 3.438.671 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 17.592.000đồng (Mười bảy triệu năm trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị Khổng Thị Thanh H không thanh toán khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 trên tổng dư nợ gốc còn lại.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Khổng Thị Thanh H phải nộp 879.600đồng (Tám trăm bảy mươi chín nghìn sáu trăm đồng).
Hoàn trả Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV 440.000đồng (Bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số AA/2016/0000771 ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TD, tỉnh VP.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

143
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về