Bản án 01/2017/HNGĐ-ST ngày 30/11/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 01/2017/HNGĐ-ST NGÀY 30/11/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 30/11/2017 tại hội trường xét xử Toà án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 200/2017/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2017 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2017/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1976 (có mặt)

- Bị đơn: Anh Phan Văn Th, sinh năm 1974 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ 2 ấp Thanh An, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 15/9/2017, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Chị và anh Phan Văn Th sau thời gian tìm hiểu, đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Lương, huyện Bình Long vào ngày 19/11/2002 theo đúng quy định pháp luật. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Thời gian đầu chung sống vợ chồng sống H phúc, đến nay vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, cuộc sống gia đình khó khăn về kinh tế. Chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Văn Th.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh Phan Văn Th có hai con chung tên Phan Hồng A, sinh ngày 23/11/2000 và Phan Hồng T, sinh ngày11/01/2005. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Về nợ chung và tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phan Văn Th trình bày:

Anh thống nhất ý kiến của chị Lê Thị H về thời gian chung sống, về tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh. Anh không đồng ý ly hôn với chị H, vì anh còn thương con muốn con có đầy đủ cha mẹ. Anh thừa nhận có đánh chị H một lần nhưng đó là những va chạm bình thường trong cuộc sống. Bản thân chị H cũng đã rất nhiều lần bỏ nhà ra đi, anh đã nhiều lần tha thứ, năn nỉ chị H về nhà.

Quá trình chung sống, anh và chị Lê Thị H có hai con chung tên Phan Hồng A, sinh ngày 23/11/2000 và Phan Hồng T, sinh ngày 11/01/2005. Anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng anh tự thỏa thuận, vợ chồng không nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lê Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng ý giao hai con chung cho anh Th trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn anh Phan Văn Th vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn và không cung cấp thêm chứng cứ tài liệu khác.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn chấp hành theo quy định pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành theo quy định pháp luật của các đương sự, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của nguyên đơn và giao hai con chung tên Phan Hồng A, Phan Hồng T cho anh Phan Văn Th trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa và thông qua nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa và thông qua nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị H, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn Th.

Anh Phan Văn Th đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 2 ấp Thanh An, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Phan Văn Th đăng ký kết hôn vào ngày 19/11/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Lương, huyện Bình Long (nay là thị xã Bình Long) theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của chị H, anh Th là hợp pháp.

Chị H cho rằng quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã, chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ khi chị nộp đơn ly hôn. Anh Th cho rằng quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt có thể hàn gắn được vì anh vẫn còn thương yêu vợ, yêu cầu Tòa án hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ. Bản thân chị H cũng đã rất nhiều lần bỏ nhà ra đi, anh đã nhiều lần năn nỉ chị H về nhà. Khi mâu thuẫn xảy ra, anh có đánh chị H một cái bạt tai. Sự việc này được hai bên đương sự thừa nhận, căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là chứng cứ không phải chứng minh.

Như vậy, hôn nhân giữa chị H, anh Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H.

[3] Về con chung: Tại phiên tòa, chị Lê Thị H đồng ý giao hai con chung tên Phan Hồng A, sinh ngày 23/11/2000 và Phan Hồng T, sinh ngày 11/01/2005 cho anh Phan Văn Th trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn và chị không cấp dưỡng nuôi con. Anh Phan Văn Th đồng ý nuôi hai con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu chị Lê Thị H không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Phan Văn Th.

- Về con chung: Giao con chung tên Phan Hồng A, sinh ngày 23/11/2000 và Phan Hồng T, sinh ngày 11/01/2005 cho anh Phan Văn Th trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003865 ngày 28/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


97
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2017/HNGĐ-ST ngày 30/11/2017 về ly hôn

Số hiệu:01/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về