​​​​​​​Bản án 46/2020/HS-ST ngày 15/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M - TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 46/2020/HS-ST NGÀY 15/09/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Trong ngày 15 tháng 09 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2020/TLST-HS, ngày 27/08/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/ QĐXXST-HS ngày 03/09/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Ga C - tên gọi khác: Không - giới tính: Nam

Sinh năm 1980, tại xã Ka L, huyện M, tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản Tù N, xã Ka L, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ.

Con ông Lù Xì P, đã chết; và con bà Lỳ Xá D, đã chết; Anh chị em ruột: Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2020 đến ngày 21/6/2020, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/6/2020 đến nay, tại xã Ka L, huyện M, tỉnh Lai Châu. Tiền án, tiền sự: Không. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh Hùng, Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 12/6/2020, Lù Ga C, sinh năm 1980, trú tại bản Tù N, xã Ka L, huyện M, tinh Lai Châu đi sang nhà Vàng Xú X, sinh năm 1982, trú cùng bản với C, C xin được của X 200.000 đồng rồi rủ X đi xuống bản Pắc M, xã M chơi và X đồng ý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày Lù Ga C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 25Ml-102.12 màu sơn đỏ đen chở Vàng Xú X đi đến bản Pắc M, xã M nhưng C không xuống bản Pắc M, xã M mà đi thẳng xuống bản Nậm P, xã M, đi đến đầu bản Nậm P, C dừng xe cho X xuống ở ven đường và bảo X đứng đợi C một lúc, C điều khiển xe mô tô đi vào trong bản Nậm P mục đích để mua thuốc phiện để sử dụng. Khi C vào trong bản thì gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt. Qua trao đổi C đã mua được của người phụ nữ này 01 gói thuốc phiện, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua được thuốc phiện Lù Ga C cất giấu vào trong cặp quần lót đang mặc trên người và điều khiển xe mô tô quay ra chỗ X đứng chờ rồi cả hai đi về nhà, trên đường về C không nói cho X biết việc mua thuốc phiện và cất giấu thuốc phiện. Còn người phụ nữ đã bán thuốc phiện cho C đi đâu làm gì C không biết. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày 12/6/2020 khi C về đến km số 6 thuộc khu vực bản Nậm L, xã Ka L thì bị tổ công tác đội Cảnh sát giao thông Công an huyện M đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra tổ công tác đã phát hiện trong cặp quần lót bên phải C đang mặc trên người chứa 01 gói thuốc phiện được bọc bằng mảnh nilon màu trắng. C tàng trữ để sử dụng vì bản thân C là nghiện chất ma túy, hành vi tàng trữ của bị cáo bị phát hiện và bắt quả tang vật chứng thu giữ 01 gói thuốc phiện, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 25Ml-102.12 màu sơn đỏ đen của Chừ.

Tại kết luận giám định tư pháp số 30/KLGĐ ngày 13/6/2020 của người giám định tư pháp vụ việc - Công an huyện M, tỉnh Lai Châu đã kết luận: 01 gói vật chứng thu giữ của Lù Ga C có khối lượng là 1,32 gam.Tại kết luận giám định số 305/GĐ-KTS ngày 22/6/2020 của Phòng k thuật hình sự, Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 mẫu chất nhựa dẻo, màu nâu đen có mùi hắc gửi giám định là ma túy, loại Thuốc phiện.

Cáo trạng số 48/CT-VKS-MT ngày 26/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Lù Ga C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, trong phần tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lù Ga C và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Lù Ga C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS, xử phạt bị cáo Lù Ga C từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.Vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a, c khoản Điều 47 BL S; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng; Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HondaWave RSX, BKS 25Ml-102.12 màu sơn đỏ đen của Lù Ga C.Về án phí HSST áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo.

* Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí quan điểm truy tố đối với bị cáo Lù Ga C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Đề nghị Áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt; Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.Về án phí áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị HĐXX xem xét miễn nộp án phí đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt đã bán thuốc phiện cho Lù Ga C. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch người phụ nữ lạ mặt nên không có cơ sở xem xét xử lý.

Đối với Vàng Xú X, quá trình điều tra xác định Xá không biết C tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Xá.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí lời luận tội và luận cứ bào chữa cho bị cáo. Lời nói sau cùng bị cáo: Bị cáo vi phạm pháp luật và biết lỗi sai phạm của mình về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ qua Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra. Đủ cơ sở khẳng định bị cáo Lù Ga C, sinh năm 1980, với mục đích mua chất ma túy (thuốc phiện) mang về để cho việc riêng và sử dụng hút. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày 12/6/2020 khi C về đến km số 6 thuộc khu vực bản Nậm L, xã Ka L thì bị tổ công tác đội Cảnh sát giao thông Công an huyện M đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra. Quá trình kiểm tra tổ công tác đã phát hiện trong cạp quần lót bên phải Chừ đang mặc trên người chứa 01 gói thuốc phiện được bọc bằng mảnh nilon màu trắng. C tàng trữ để sử dụng vì bản thân C là nghiện chất ma túy, hành vi tàng trữ của bị cáo bị phát hiện và bắt quả tang vật chứng thu giữ 01 gói thuốc phiện có khối lượng 1,32 gam, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 25Ml-102.12 màu sơn đỏ đen của Lù Ga C. Như vậy hành vi của bị cáo Lù Ga C đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại điều luật qui định:

1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán,vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

......

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến 500 gam”.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng hành vi bị cáo.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo nhận thức được điều đó, nhưng vì mục đích tư lợi, bị cáo đã mua chất ma túy thuốc phiện về để làm việc riêng và sử dụng, khi bị bắt bị cáo C tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 1,32 gam thuốc phiện, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi mình đã thực hiện. Hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục đối với bị cáo.

[4] Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, bị cáo sinh sống ở bản Tù N, xã Ka L, huyện M, tỉnh Lai Châu, lao động làm nghề trồng trọt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, hơn nữa có trình độ học vấn không biết chữ đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249 BLHS bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 mảnh nilon còn lại sau khi xác định khối lượng vật chứng cần tịch thu tiêu hủy; Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 25Ml-102.12 màu sơn đỏ đen, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội đối với bị cáo, HĐXX căn cứ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 BL S; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo.

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 260; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố bị cáo Lù Ga C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lù Ga C 01(Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày (từ ngày 12/6/2020 đến ngày 21/6/2020). Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

2.Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng còn lại sau khi xác định khối lượng; Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 25Ml-102.12 màu sơn đỏ đen của Lù Ga C, hiện vật chứng vụ án đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Lai Châu.

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Ga C.

4. Án xử công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.


14
Bản án/Quyết định đang xem

​​​​​​​Bản án 46/2020/HS-ST ngày 15/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:46/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Tè - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về